Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Bí mật những ngôi mộ ''phát'' của nhiều dòng họ khoa bảng Việt

Bí mật những ngôi mộ ''phát'' của nhiều dòng họ khoa bảng Việt
 
Bí mật những ngôi mộ ''phát'' của nhiều dòng họ khoa bảng Việt Cũng kể từ khi mộ ông tổ đời thứ nhất của dòng họ này được "hổ táng", con cháu đời sau làm ăn khấm khá, ngày một thịnh vượng.



Trong tâm thức con cháu của nhiều dòng họ lớn ở Việt Nam, sự hiển đạt trên con đường khoa bảng thường được cho rằng, nhờ sự linh ứng của ngôi mộ tổ. Nhiều trường hợp, những ngôi mộ tổ này được táng vào thế đất phong thuỷ đẹp chỉ là sự ngẫu nhiên, nằm ngoài dự tính và mặc nhiên gọi là do "thiên táng"
 
Từ chuyện mộ "hổ táng"
 
Trong quá trình tìm hiểu về văn hoá của nhiều dòng họ khoa bảng nức danh lịch sử khoa bảng Việt Nam thời phong kiến như họ Nguyễn (ở làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, Hà Nội), họ Phan Huy (ở Thạch Hà, Hà Tĩnh và Quốc Oai, Hà Nội), họ Nguyễn (Thanh Oai, Hà Nội)... tôi phát hiện, đều có chung một mô típ câu chuyện là mộ tổ được táng vào thế đất phong thuỷ tốt, do "thiên táng" nên con cháu đời sau phát đường công danh, khoa cử. Cho đến thời điểm này, những ngôi mộ trên được con cháu trong dòng họ bảo vệ cẩn thận, vừa thể hiện tấm lòng biết ơn đối với tổ tiên, cũng xem đó như "bảo vật", điểm tựa tinh thần để nhiều đời con cháu phấn đấu vươn lên trên con đường khoa cử và công danh.
 
Câu chuyện mộ tổ của dòng họ Nguyễn, ở làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, Hà Nội, (dòng họ nổi tiếng khoa bảng, sinh thành ra hai vị Hoàng Giáp là Nguyễn Thượng Phiên và Nguyễn Thượng Hùng, nổi danh khoa cử Việt Nam thời Nguyễn) cho thấy có ghi lại về ngôi mộ tổ được chôn cất ngẫu nhiên vào thế đất tốt đã phù hộ cho con cháu trong dòng họ. Và theo dòng họ Nguyễn, nó là căn nguyên dẫn đến nhiều người đỗ đạt cao, thành danh.
 
Trong phả truyện của dòng họ này viết rằng, ông tổ đời thứ nhất của dòng họ vốn là một nông dân, bản tính siêng năng, phúc hậu. Nhà cụ gần núi Đọi Đình (nay thuộc Mỹ Đức, Hà Nội). Thế núi tương đối khác lạ, chia thành 5 bậc, cây cối xanh tốt quanh năm. Tuổi tuy già nhưng cụ vẫn cần mẫn, lên núi vỡ (khai) hoang, trồng cây. Một hôm, ông tổ đi không về, con cháu lấy làm lạ bèn đi tìm. Đến nơi, người nhà thấy cụ bị hổ sát thương, nằm tại bậc thứ 3 của ngọn núi. Con cháu xót thương, chia nhau đi tìm hổ trả thù nhưng không thấy, khi quay trở lại thấy mối đùn lên, phủ khắp thi thể. Nghĩ đây là điều lạ nên đắp đất thành nấm mồ ngay tại đó. Sau này, thầy phong thuỷ đến xem và cho rằng đây là ngôi mả "hổ táng", nằm ở thế đất đẹp, nhờ đó mà con cháu đời sau hưởng lộc công danh, khoa cử.
 
Vị trí một ngôi mộ được cho là “thiên táng” nay đã được con cháu tôn tạo (ảnh nguồn Internet).
 
Cũng kể từ khi mộ ông tổ đời thứ nhất của dòng họ này được "hổ táng", con cháu đời sau làm ăn khấm khá, ngày một thịnh vượng. Đặc biệt, trên con đường khoa cử công danh hai cha con Nguyễn Thượng Phiên (đỗ Hoàng Giáp, làm đến chức Thượng Thư thời Nguyễn), Nguyễn Thượng Hùng (đỗ Hoàng Giáp, là một chí sĩ yêu nước, nổi danh những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Việc một dòng họ xuất thân vốn là nông dân, sau này con cháu được vinh hiển nên con cháu đời sau càng cho rằng, "từ khi cụ tổ vào ở núi Đọi Đình và được âm phần tại đó. Tiếp đó, con cháu đời sau được thịnh vượng, nhờ công dày đức lớn của cụ". Cũng theo phả truyện của dòng họ này, "nhờ cụ tổ đời thứ nhất, đắc địa ở núi Đọi Đình nên mới khơi nguồn phúc đức. Chi nhánh thịnh vượng, nối nghiệp đèn sách tốt đẹp".
Đến tích “mả rồng ấp” 
 
Bí ẩn cái chết của Lưu Nhân Chú !?
Nhân Chú vốn là một tướng văn võ toàn tài, sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, lĩnh công xét thưởng, ông được đứng vào hàng thứ 5. Con đường quan lộ khá hanh thông, ông từng giữ chức nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự. Nhưng cuộc đời của người này lại có một kết cục bi thảm. Ông bị Lê Sát  sai người dùng thuốc độc để sát hại.  Nhiều người cho rằng, cuộc đời của Lưu Nhân Chú có kết cục đau lòng như vậy, có phần vì mộ phần của cha bị yểm. Tuy nhiên, đến giờ, trong giới sử học cho rằng, việc Lê Sát sai người đầu độc Lưu Nhân Chú chết căn nguyên từ  việc tranh chấp quyền lực trong cung đình của nhà Lê Sơ.
Trong các dòng họ khoa bảng ở Hà Tĩnh, dòng họ Phan Huy có một vị trí lớn. Nói không ngoa, đây là dòng họ khoa bảng, quan lại, quý tộc hiếm có. Trong họ, nhiều người đậu tiến sĩ, cử nhân và trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà ngoại giao nổi tiếng của đất nước như Phan Huy Ích... Trong họ này có người giữ đến chức Bình Chương (Tể tướng), thượng thư (Bộ trưởng). Đặc biệt, có một điều độc đáo, con cháu của dòng họ này luôn được triều Tây Sơn, Triều Nguyễn tin tưởng giao trọng trách bang giao và công việc liên quan đến lễ nghi của cung đình. Sự hiển vinh của dòng họ này trải từ thời Vua Lê - Chúa Trịnh cho đến nay. Nhưng ít ai biết rằng, dòng họ khoa bảng này vốn xuất thân ca hát.
 
Theo như nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, thời phong kiến những người theo nghề ca hát bị xã hội xem là "xướng ca vô loài". Việc những người con xuất thân từ dòng họ này có muốn đi thi cũng khó vì không thể qua được vòng khảo hạch. Việc những người con trong dòng họ này không chỉ được đi thi mà còn đỗ đạt và  thành danh trong thời gian dài một  điều lạ. Cũng chính vì những sự khó lý giải đó, nên như nhiều dòng họ khác, trong phả truyện của dòng họ này có đề cập đến một ngôi mộ phát tích do được thiên táng nên đã âm phù cho con cháu sau này được hưởng lộc.
 
Phả truyện dòng họ Phan chép rằng, ngôi mộ này được gọi là Mả rồng ấp, một ngôi mộ thiên táng. Chuyện kể rằng, tục cũ, lệ ngạch của thôn Hữu Phương (Thạch Hà, Hà Tĩnh) rất nặng. Tiền nhân ta quá cố, con cháu nhà nghèo không sao nộp đủ được lệ làng, người trong thôn bẻ gai rắc xung quanh nhà, không cho làm lễ mai táng. Những người quen thuộc ở thôn Gia Mỹ Đoài thấy thế lấy làm ái ngại, nửa đêm hò nhau đến khiêng quan tài tiền nhân ta đi chôn giấu. Đến chỗ đó dây thừng bị đứt, giời lại nổi cơn mưa to, gió lớn, nên phải bỏ quan tài tại đấy mà về.
 
Sáng hôm sau, con cháu ra xem thì thấy kiến trắng đã bồi đầy, lấp kín quan tài nên không dám đụng đến. Cùng hôm đó, vào khoảng giờ Thân, tại nơi đây có mưa, sấm ầm ầm, mọi người ngờ là bị sét đánh, nhưng khi tạnh mưa, ra xem thì thấy mộ không hề gì, duy nhất cỏ rậm bốn bề đều tan nát, nước xung quanh có hơi bốc thành mây như rồng phun. Dân xứ này đặt tên là mả rồng ấp. Về sau có thầy địa lý Tàu đến xem và bảo rằng, "Tri thù kết võng, huyệt tại trung gian" có nghĩa " thế đất như con nhện giăng lưới, huyệt ở vào chính giữa".

Và giai thoại mộ "thiên táng" bị Tàu yểm
 
Có mối liên hệ nhưng không phải yếu tố quyết định
Xung quanh chuyện, sự tác động của mồ mả tổ tiên đối với đời sống con cháu sau này, theo nhà nghiên cứu phong thuỷ Vũ Mộng Giao thừa nhận là có thật. Tuy nhiên, trong đời sống người dân, thường hay thổi phồng và gán ghép mọi chuyện dẫn tới gây hoang mang hoặc cuồng tín trong dư luận. Nhiều dòng họ hiển vinh khoa cử học hành, ngoài việc mồ mả tổ tiên được chôn cất vào những địa thế đẹp (nơi đó âm dương hoà hợp) thì sự nỗ lực vươn lên trong học tập, tu thân dưỡng đức mới tạo nên được thành công.
Trong quá trình tác nghiệp tìm hiểu về văn hoá của những dòng họ, ngoài câu chuyện về những ngôi mộ thiên táng chúng tôi bắt gặp nhiều câu chuyện lạ về việc yểm mộ "thiên táng" để phá long mạnh. Câu chuyện mộ thiên táng của thân sinh người anh hùng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn - Lưu Nhân Chú bị Tàu yểm một trong câu chuyện gây hiếu kỳ.
 
Theo chuyện kể của con cháu của dòng họ Lưu, ở xã Thuận Văn Yên và Ký Phú (Đại Từ, Thái Nguyên ngày nay). Vùng đất này nằm dưới chân Tam Đảo từng một thời được mệnh danh là vùng đất thiêng, căn cốt long mạch của dãy Tam Đảo. Được biết, thân sinh của tướng Lưu Nhân Chú vốn ham săn bắn. Trong một lần vào rừng săn bắn, người nhà không thấy ông về, liền đi tìm, vào tận nơi thấy cụ chết nằm cạnh hai tảng đá lớn ở khu Miếu và mối đùn lên trùm khắp cơ thể. Người nhà cho rằng, cụ được "thiên táng". Thời gian không lâu sau, dòng họ Lưu xuất hiện người anh hùng Lưu Nhân Chú, một danh tướng của Lê Lợi, góp công đầu vào thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, giải phóng đất nước.
 
Trước uy danh của ngài, người Tàu sợ rằng con cháu đời sau của Lưu Nhân Chú phát triển khiến nước Nam cường thịnh. Do đó,  liền cho người sang khu Miếu tìm ngôi mộ kết ấy để phá long mạch. Thầy địa lý Tàu rất hiểm độc, chúng âm thầm điều tra ngôi mộ kết này, sau đó cho đào rãnh sâu giữa hai tảng đá và đổ than xuống để yểm nhằm phá long mạch. Về sau, hậu duệ dòng họ Lưu nhiều lần tìm cách phá yểm, hàn long mạch nhưng đào sâu bao nhiêu cũng không hết lớp than trấn yểm.  Hiện tại, khu vực Miếu vẫn còn hai tảng đá hình ngai vàng và những rãnh sâu của lớp than trấn yểm năm xưa.
 

Trinh Phúc - nguoiduatin.vn

Ngôi mộ song huyệt sinh ra bậc tài danh nhờ phong thủy?

Ngôi mộ song huyệt sinh ra bậc tài danh nhờ phong thủy?
 
Ngôi mộ song huyệt sinh ra bậc tài danh nhờ phong thủy? Ngôi mộ này hiện ở làng Canh Hoạch, xã Dân Hoà, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đây là ngôi mộ kỳ lạ, bởi mộ này có hai huyệt. Một huyệt là "nơi ở" của bố vợ, huyệt kia là "nơi ở" của con rể. Cả người bố vợ và con rể đều sinh ra được bậc tài danh, có con là trạng nguyên.


Thực hư thế đất "thần bút chấm thuỷ"  
 
Những câu chuyện liên quan đến phong thủy  ngôi mộ vẫn luôn là điều bí ẩn, khó lý giải thoả đáng. Việc mồ mả tổ tiên ông bà có tác động như thế nào đến đời sống hưng thịnh của con cháu nơi dương thế vẫn chưa thể lý giải thoả đáng. Nhưng nhiều hiện tượng trùng hợp ngẫu nhiên về sự “phát” đường tài lộc sau khi người thân được mai táng, đặc biệt là trường hợp ngôi mộ chung của hai vị thân phụ của trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và trạng nguyên Nguyễn Thiến vẫn khiến người trong dòng họ tin vào điều đó. 
 
Theo sự tìm hiểu của PV báo điện tử Người đưa tin, ngôi mộ đặc biệt này có tuổi đời lên đến gần 600 năm, được con cháu của dòng họ Nguyễn làng Canh Hoạch bảo vệ, hương khói cho đến giờ vẫn còn nguyên vẹn. Trong tâm thức những người con của dòng họ Nguyễn làng Canh Hoạch, cũng như họ Nguyễn ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh thì ngôi mộ này được xem là mộ phát tích. Nó khởi đầu cho sự hiển đạt khoa cử của hai dòng họ suốt hàng trăm năm qua. Cũng trong tâm thức hậu duệ của trạng cậu, trạng cháu hiện nay (Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thiến) chính nhờ tiên tổ được táng ở thế đất phong thuỷ hiếm có nên con cháu đời sau mới hưởng lộc, đỗ đạt, nổi danh văn chương, thơ phú đến thế.
 
Hậu duệ của trạng cậu, bên ngôi mộ song huyệt.
 
Linh ứng của ngôi mộ thiêng hay chỉ là sự trùng lặp?
Công tử Doãn Toại đặt huyệt chính, còn cụ Bá Ký đặt huyệt bàng, trên một gò đất có thế "thần bút chấm thuỷ" mà theo lời của thầy phong thuỷ sẽ phát đường công danh, khoa cử. Thực hư, chuyện phong thuỷ tác động đến công danh của con cháu của hai vị này đến đâu thật khó nói, nhưng có một sự thật con của cụ Nguyễn Bá Ký, là Nguyễn Đức Lượng đã đỗ trạng nguyên vào năm 1514, đời vua Lê Tương Dực. Người con của công tử Doãn Toại với tiểu thư Nguyễn Thị Hiền, là Nguyễn Thiến đậu trạng nguyên vào năm 1532, triều Mạc Thái Tổ. Nói về hiển đạt con cháu của trạng nguyên Nguyễn Thiến sau này khó ai sánh bằng, trong đó có danh tướng Nguyễn Quện, danh nhân văn hoá thuộc dòng họ Nguyễn Tiên Điền mà người được nhiều người biết đến nhất là đại thi hào Nguyễn Du.
Câu chuyện về ngôi mộ kỳ lạ này do chính ông Nguyễn Văn Thắng (69 tuổi, tộc trưởng của dòng họ Nguyễn làng Canh Hoạch) trực tiếp kể lại cho PV. Theo ông Thắng, ngôi mộ này độc đáo ở chỗ có hai huyệt. Hai người được táng ở đây là cụ Nguyễn Doãn Toại, vị tiên tổ của dòng họ Nguyễn đất Tiên Điền, Hà Tĩnh, cụ thứ hai là cụ Nguyễn Bá Ký (tiến sĩ của khoa thi Quang Thuận thứ 4 năm 1463.
 
Khoa thi năm đó đỗ đầu là trạng nguyên Lương Thế Vinh), tiên tổ của họ Nguyễn ở làng Canh Hoạch. Theo vị tộc trưởng đáng kính của dòng họ Nguyễn làng Canh Hoạch, khu đất táng mộ này là kết quả của một thầy phong thuỷ tìm kiếm trong suốt một năm trời.
 
Khởi nguyên của câu chuyện chọn đất đặt mộ là thời điểm  năm 1492, khi cụ Nguyễn Đức Lượng (con trai độc nhất của cụ Bá Ký) vừa tròn 28 tuổi thì không may cụ Bá Ký qua đời. Cụ Đức Lượng, muốn tìm một vị trí đất tốt để đặt mộ cho cha khi tiến hành cải táng mang theo hy vọng con cháu đời sau đạt được vinh hiển.
 
Cụ Nguyễn Đức Lượng đã khổ công tìm thầy địa lý về nhà và may mắn cụ đã gặp được thầy phong thủy giỏi. Để được thầy địa lý xem đất, cụ Lượng trân trọng  tiếp đãi hậu hĩnh thầy phong thuỷ này hơn một năm trời. Sau một thời gian tìm hiểu địa thế, thầy địa lý đã mách cho cụ Đức Lượng một nơi có thế phong thủy hiếm có.
 
Thầy khẳng định, nếu đặt mộ cụ Nguyễn Bá Ký nơi này thì con cháu về sau sẽ thành đạt mà khó có dòng họ nào sánh bằng. Điều lạ là mảnh đất ấy không phải ở đâu xa mà chính là gò đất nằm sát làng. Việc đó khiến cụ Đức Lượng mừng khôn xiết, chỉ chờ đến ngày lành tháng tốt là táng cha Bá Ký về an nghỉ.
 
Theo ông Thắng miêu tả, thế phong thủy của khu đất mà thầy địa lý đã mách lại cho cụ Lượng là một gò cao nằm ở góc làng Canh Hoạch. "Nơi đây, mạch chìm, có khe nhỏ theo hướng Mão chảy lại. Về phương Hợi có ba cái gò khe nhỏ quay chầu vào. Lập hướng tại Mão thu nước tại Hợi, phóng nước tại Đinh Mùi". Cũng theo ông Thắng, kiểu đất này đặt trên con hỏa tinh khai khẩu rất to, đằng trước có tam kỳ giang làm minh đường, thần bút tẩm thủy, cờ, trống, võng, lọng la liệt ngay trước mặt.
 
Căn nguyên việc “bố vợ, con rể” táng cùng mộ
 
Vị công tử mắc căn bệnh quái ác
Cũng vì căn bệnh quái ác này mà công tử Doãn Toại đành một thân một mình ra đồng vắng làm lều nhỏ để sinh sống. Oái ăm thay, chiếc lều mà công tử Doãn Toại dựng lên lại nằm chính ở gò đất mà thầy phong thủy mách ông Lượng đặt huyệt mộ cho cụ Nguyễn Bá Ký. Ngày tháng trôi qua, gần đến ngày mà thầy phong thủy lấy để làm lễ cải táng cho cụ Bá Ký thì công tử Doãn Toại vẫn bình thản ở trong chiếc lều, án giữ khu đất. Việc này khiến cụ Nguyễn Đức Lượng vô cùng sốt ruột, năm lần bảy lượt năn nỉ công tử Doãn Toại dời đi nhưng vị công tử này vẫn cố tình ở lại giữ đất.
Những tưởng chỉ cần đợi đến ngày thầy phong thủy quay lại thì tâm nguyện của cụ Đức Lượng được hoàn thành, nhưng không ngờ được một việc oái oăm ngoài dự kiến. Ông Thắng kể rằng, người phá hỏng kế hoạch của cụ Lượng chính là công tử con của ông Nguyễn Doãn Địch (thám hoa, khoa thi 1481, đời Lê Thánh Tông) tên là Nguyễn Doãn Toại. Công tử  Doãn Toại là người có học thức uyên thâm, khi tài năng đến độ chín thì không may mắc bệnh phong (bệnh hủi - ở thời điểm bấy giờ, những người không may mắc căn bệnh quái ác này sẽ bị mọi người xa lánh). Vốn từ lâu đem lòng thương thầm nhớ trộm tiểu thư Nguyễn Thị Hiền, em gái của cụ Nguyễn Đức Lượng, nhưng vì vướng bệnh phong, nên công tử Doãn Toại bị gia đình người yêu phản đối
.
Ngày đặt mộ đã đến gần nhưng công tử Doãn Toại vẫn trơ trơ như không có chuyện gì xảy ra. Hôm giáp ngày đặt mộ cha, cụ Nguyễn Đức Lượng một lần nữa ra lều của công tử Doãn Toại tìm cách nói ngon ngọt để thuyết phục. Cuối cùng vị công tử này cũng lộ ra ý định vốn giấu kín trong lòng mình từ lâu. Doãn Toại nói với cụ Lượng: "Việc này giải quyết cũng dễ thôi. Các ông và tôi đều là con nhà khoa bảng, môn đăng hộ đối. Tôi vốn từng đem lòng cảm mến người em gái của ông, muốn cho hai gia đình kết làm thông gia. Tuy nhiên, vì bệnh tật mà không thành. Giờ đây chỉ muốn được gặp người em gái của ông. Tôi muốn hai người cùng trò chuyện với nhau một đêm. Sáng hôm sau, tôi sẽ lập tức chuyển đi để tiện việc mong ước của ông".
 
Khi nghe được ý định của công tử Doãn Toại nói, cụ Nguyễn Đức Lượng hết sức bực tức, về nhà cụ đem chuyện này than thở với thầy phong thủy. Người thầy trăn trở một hồi rồi nói rằng, gò đất đó rất quý. Nếu là nơi an nghỉ của gia tiên thì sau này con cháu, văn chiếm khôi nguyên, võ chiếm tướng mạc, thiên hạ ít ai bì được. Nếu bị bỏ phí thì sau này hối không kịp. Không ngờ, cuộc trò chuyện giữa hai người lại bị tiểu thư Nguyễn Thị Hiền nghe được. Vốn cũng có cảm tình với công tử Doãn Toại từ trước, người em gái đã quyết định ra gặp thầy phong thủy và anh trai, mạnh dạn bảo rằng: "Vì đất ấy tốt, yên được hài cốt cha, lại mang đến sự thành đạt hiển vinh cho anh và con cháu về sau, chỉ đổi bằng một đêm nói chuyện đâu có xá gì"  - ông Thắng kể lại.
 
Đêm hôm đó, Nguyễn Thị Hiền đội nón, xách đèn băng trong đêm tối mưa phùn gió bấc đến lều tranh chuyện trò cùng công tử Doãn Toại. Vốn đã tình ý với nhau từ lâu, lại chứng kiến cảnh ngộ bất hạnh của công tử Doãn Toại, cô đã trao thân cho vị công tử này. Nhưng ý trời xui khiến, đêm hôm đó, điều không may đã xảy ra. Công tử Doãn Toại đột nhiên quy tiên. Phát hiện ra vị công tử này chết, tiểu thư Nguyễn Thị Hiền vội băng đêm chạy về báo cho anh trai biết. Cụ Đức Lượng nghe tin như sét đánh, vội báo cho quan và gia đình phía công tử Doãn Toại. Cụ Lượng có nguyện vọng muốn đem xác công tử Doãn Toại an táng một nơi khác.  Theo ông Thắng, sáng mai ra, khi mọi người tới thì xác của công tử Doãn Toại đã bị mối đùn lấp chỉ còn nổi lên hai chân. Gia đình công tử Doãn Toại cho rằng, đây là thiên táng nên không di chuyển nữa.
 
Hậm hực và cũng vì ý trời, huyệt mộ thầy phong thuỷ dày công tìm kiếm trở thành công cốc. Thấy cụ Nguyễn Đức Lượng buồn rầu, thầy phong thuỷ đành động viên, "huyệt chính người ta đã chiếm, ý trời khó tránh. Tuy nhiên, huyệt bàng vẫn còn đó, nếu đem chôn thân phụ của ngài vào thì con cháu sau này vẫn được hưởng lộc, tuy không thể so sánh được với huyệt chính". Nghe theo thầy phong thuỷ, cụ Đức Lượng đành cho táng mộ cha vào cạnh mộ của công tủ Doãn Toại. Và, ngôi mộ có hai huyệt đặt sát cạnh nhau có từ đó.     
                                       
Trinh Phúc - nguoiduatin.vn
 

Những di tích kỳ bí

Những di tích kỳ bí - Làng chài được yểm bùa
 
Những di tích kỳ bí - Làng chài được yểm bùa Làng chài Hải Giang (xã Nhơn Hải, TP.Quy Nhơn, Bình Định) có nhiều dấu tích của người Chăm đến nay vẫn chưa được giải mã. Nhiều người cho rằng đó là những lá bùa để giữ đất, giữ làng.



Pho tượng cổ ở Hải Giang được người dân mặc áo vàng, thờ chung với các vị Phật, bồ tát - Ảnh: Hoàng Trọng  --->



Pho tượng cổ bí hiểm
 
Điểm đến hấp dẫn nhất ở Hải Giang là chùa Linh Sơn, nơi thờ pho tượng cổ bằng đá mà dân gian quen gọi là tượng Phật Lồi. Pho tượng có hình dáng một vị tu sĩ trong tư thế ngồi thiền, tay trái đặt lên đùi, tay phải cầm tràng hạt, mình trần, thân đeo một mảnh vải vắt chéo qua vai trái. Tượng cao 0,82 m, ngang 0,46 m. Đặc biệt, lưng tượng là một tấm bia hình ngũ giác (cao 60 cm, rộng 45 cm), có 12 dòng chữ Chăm cổ đến nay vẫn chưa ai đọc được.
 
Theo ông Trương Long (81 tuổi, ở Hải Giang), người được giao giữ chìa khóa trông coi chùa Linh Sơn, tượng Phật Lồi lộ ra từ lòng đất khi một người dân Hải Giang cày ruộng canh tác và cả làng cùng nhau lập đền để thờ. Sau nhiều lần di chuyển lên cao dần, vị trí đặt tượng ngày nay cách địa điểm phát hiện pho tượng khoảng 300 m. Chùa Linh Sơn được xây dựng từ đó, nay đã hơn 200 năm. Chùa ngày càng được mở rộng dần, người ta hiến tặng các tượng Phật, bồ tát để thờ chung với pho tượng cổ.
 
Ông Trương Long kể: Năm 1945, khi quân Nhật chuẩn bị rút về nước, viên sĩ quan chỉ huy quân Nhật tại Quy Nhơn dẫn một toán lính sang chùa Linh Sơn để khiêng pho tượng đi. Nhưng bọn chúng có cố đến đâu, huy động hết sức lực cũng không khiêng được pho tượng nên đành phải bỏ đi. “Do ông hiển linh, muốn ở lại với dân làng Hải Giang nên không ai có thể dời ông đi nơi khác được. Những đối tượng trong làng bị người dân nghi ngờ có tham gia vụ trộm tượng lần lượt nhận cái chết “bất đắc kỳ tử” rất thê thảm sau đó một thời gian”, ông Long kể lại câu chuyện nhuốm màu huyền thoại.
 
“Tượng Phật Lồi ở Hải Giang là tượng thần Shiva do người Chăm tạc, có niên đại khoảng thế kỷ 11 - 13. Viện Viễn Đông bác cổ ở Pháp sang cũng đã lấy mẫu chữ đằng sau pho tượng Phật Lồi về nghiên cứu nhưng vẫn chưa có kết quả.”
(Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định)
Đến năm 1999, tại Hải Giang xuất hiện vài người lạ đến phối hợp cùng một số người trong làng săn tìm đồ cổ, đồ đồng đen... Một đêm, họ phá khóa gian thờ chính điện, định khiêng tượng Phật Lồi đem đi bán, nhưng mới khiêng tượng được vài mét bỗng dưng không tài nào di chuyển được nữa. Bọn trộm dùng búa đập đứt đầu tượng Phật Lồi thì phát hiện tượng làm bằng đá xanh chứ không phải đồng đen nên bỏ đi. Sáng hôm sau, thấy tượng nằm lăn lóc bên hông chùa nên người dân khiêng vào chánh điện, dùng xi măng gắn đầu tượng lại.
 
Ngôi làng của người Chăm cổ
 
Ở phía bắc làng Hải Giang, trên một khối đá nhô ra biển gần hang Bà Dăng có Hòn Đá Chữ giống hệt một tấm bia đá lớn. Hòn Đá Chữ được ngăn thành hai phần riêng biệt, một bên khắc 3 hàng chữ Chăm, bên còn lại khắc 4 hàng chữ Chăm. Những dòng chữ này đã bị đục xóa hoặc bị xi măng trám lên rất mờ, càng khó nhận diện. Có người cho rằng những dòng chữ trên vách núi chỉ dẫn đến kho báu trong hang Bà Dăng nên vào trong hang đào xới. Theo ông Trương Long, các đời trước truyền lại rằng những dòng chữ trên vách núi và trên lưng tượng Phật Lồi có mối quan hệ với nhau, đều là bùa yểm. Pho tượng được phát hiện phía nam của làng, còn các dòng chữ ở phía bắc làng nên có thể là người Chăm dùng nó để trấn yểm, bảo vệ làng Hải Giang.
 
Người dân Hải Giang cho rằng vùng đất mình đang sinh sống trước kia là khu vực lưu trú của người Chăm. Gần mép biển và trên ngọn núi xung quanh làng Hải Giang có dấu tích của một tường thành cổ được cho là của người Chăm xây dựng nên. Tại các khu vực như Gò Thịnh, Gò Luôn, Ụ Đầm Bé, Gò Giếng Hời... mỗi khi đào đất lên canh tác có rất nhiều gạch Chăm, bình hũ sành... Những khu vực này mùa mưa thì giữ nước dẫn đến sình lầy, mùa nắng thì khô cằn không thể canh tác được do lớp đất canh tác rất mỏng, phía bên dưới là lớp gạch của người Chăm cổ.
 
Chân núi dưới chùa Phật Lồi có 2 ngôi mộ cổ, khoảng hơn 100 tuổi, có bia bằng chữ Hán, do dân vạn chài từ nơi khác mang đến chôn. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, hai ngôi mộ này không còn ai đến hương khói. “Hai ngôi mộ này đã chiếm mất long mạch của Hải Giang nên người dân trong làng làm ăn không phất lên được. Hiện 2 ngôi mộ này bị đục phá bởi ai đó muốn lấy lại long mạch cho làng Hải Giang hoặc cũng có thể là bọn ăn trộm đồ cổ gây ra”, ông Trương Long nói.
 
Tại khu vực Hố Giang (ở thôn Thành Sơn, xã Hoài Châu, H.Hoài Nhơn, Bình Định) có hòn đá Chữ, trên đá có khắc 15 hàng chữ của người Chăm cổ đến nay vẫn chưa được các nhà khoa học giải mã. Trong khu vực này, có nhiều di tích như giếng nước cổ, những đoạn tường thành cổ... Nhiều người trong vùng đồn đoán khu vực này có kho báu của nước Chămpa nên đào xới để tìm vàng. Một số nhà sử học có nghi vấn rằng khu vực Hố Giang là nơi vua Indravarman 5 (Vương triều Chămpa) đóng quân bí mật sau khi cho đốt kho lương, bỏ trống kinh thành Đồ Bàn để chống quân xâm lược nhà Nguyên (Trung Quốc) vào cuối thế kỷ 13.
Những di tích kỳ bí - Kỳ 2: Chuyện ông Đỏ, ông Đen
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 2: Chuyện ông Đỏ, ông Đen Chùa Nhạn Sơn (thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, TX.An Nhơn, Bình Định) có 2 pho tượng đá cổ, cao khoảng 2,8 m, được người dân địa phương cho rằng rất linh thiêng.



Hai pho tượng ông Đỏ, ông Đen trong chùa Nhạn Sơn - Ảnh: Hoàng Trọng --->


Truyền thuyết Song nghĩa tự
 
Theo hòa thượng Thích Thị Hoàng, trụ trì chùa Nhạn Sơn, hai pho tượng cổ này có từ thời người Chiêm Thành (người Chăm) còn đóng đô ở thành Đồ Bàn (thuộc xã Nhơn Hậu). Do chiến tranh, hai pho tượng đã bị chôn vùi trong lòng đất hàng trăm năm. Sau đó, mưa nắng xói mòn nên hai búi tóc của các pho tượng lộ dần lên khỏi mặt đất. Trẻ con chăn bò thấy lạ đào bới, phát hiện tai, mũi, mắt, miệng, rồi dân làng đào lên được 2 pho tượng liền lập chùa để thờ lấy tên là Thạch tự công, nghĩa là chùa thờ ông Đá. Thời gian sau, người dân biết câu chuyện lý giải về 2 pho tượng đá này nên đổi tên chùa thành Song nghĩa tự, tức là chùa thờ hai anh em kết nghĩa.
 
Đến thế kỷ 16, vùng An Nhơn bị hạn hán kéo dài, Tuần phủ địa phương cho dân lập đàn tràng cầu mưa. Hòa thượng Chí Mẫn được người dân giới thiệu đứng ra chủ trì việc lập đàn cầu mưa và kết quả đã có mưa giải hạn. Hòa thượng Chí Mẫn được quan Tuần phủ mời ở lại lập chùa và ông đã chọn Song nghĩa tự. Tên chùa được hòa thượng Chí Mẫn đổi thành Nhạn Sơn Linh Tự vẫn còn đến ngày nay, nhưng người dân địa phương thường gọi là chùa Ông Đỏ Ông Đen.
 
Hòa thượng Thích Thị Hoàng kể: Hai anh em kết nghĩa là ông Đỏ, ông Đen trong câu chuyện được dân gian và nhà chùa lưu truyền có tên là Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền, sống vào đời nhà Trần ở nước Việt. Huỳnh Tấn Công (pho tượng có màu sơn đỏ) là con một nhà nho nghèo ở Quảng Nam. Trên đường ra Thăng Long thi, khi đi ngang qua tỉnh Quảng Bình thì bị bệnh, ngất xỉu giữa đường. Một vị điền chủ giàu nổi tiếng ở Quảng Bình đi thăm ruộng vào sáng sớm phát hiện và đưa Huỳnh Tấn Công về nhà chữa trị. Con của vị điền chủ tên là Lý Xuân Điền (pho tượng sơn màu đen) cũng ra Thăng Long thi nên hai người cùng lên đường.
 
Trên đường đi, hai người thấy tâm ý hợp nhau nên kết nghĩa làm anh em. Cả hai đều thi đỗ và được làm quan to. “Huỳnh Tấn Công làm quan văn nên tay cầm cây giản (là một cây lịnh), có nghĩa là ra vào trong triều không ai gạn hỏi. Ông Lý Xuân Điền cầm cây kiếm lệnh tức là làm quan võ, được quyền tiền trảm hậu tấu. Điều này chứng tỏ hai ông đều làm quan rất có uy tín trong triều, được nhà vua tin cẩn”, hòa thượng Thích Thị Hoàng phân tích. 
 
Hai ông có thân quen với vua nước Chiêm Thành nên vào thăm. Gặp lúc vua Chiêm Thành bị bệnh, các danh y trong nước không chữa được nên ông Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền dùng thuốc nam chữa khỏi. Lại gặp lúc Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đem quân xâm lấn biên giới nước Chiêm Thành, hai ông xin cầm quân đánh giặc. Dù đánh đuổi được giặc nhưng tướng Lý Xuân Điền lại bị Xiêm La bắt. Sau đó, Hoàng tử Xiêm La cầu hôn em gái ông Huỳnh Tấn Công nên ông yêu cầu dùng Lý Xuân Điền làm lễ vật cầu hôn. Hai người gặp lại nhau và cùng trở về nước Việt. Vua Chiêm Thành thương nhớ, biết ơn hai ông nên tạc hai pho tượng để thờ.
 
Việt hóa tượng Chăm
 
Câu chuyện về hai pho tượng trong chùa Nhạn Sơn này được cụ Bùi Văn Lang ghi chép trong sách Địa dư mông học tỉnh Bình Định (xuất bản năm 1933 và tái bản năm 1935). Tuy có vài khác biệt về địa danh và một số tình tiết trong câu chuyện nhưng các dị bản này cũng nhằm mục đích lý giải về nguồn gốc hai pho tượng cổ ở chùa Nhạn Sơn.
 
Chuyện hai pho tượng ở chùa Nhạn Sơn bị Việt hóa, Phật giáo hóa cũng là đặc điểm chung của rất nhiều tượng Chăm cổ còn sót lại ở Việt Nam. Cũng như tượng vị tu sĩ ở làng Hải Giang (được đề cập ở bài trước) bị người dân “biến” thành tượng bồ tát, hai pho tượng chùa Nhạn Sơn được người dân và nhà chùa mặc áo màu vàng và thờ cúng cùng với các vị Phật, bồ tát.
 
Trong tín ngưỡng của người dân địa phương, hai pho tượng này rất linh nên họ thường đến cúng bái, cầu tài lộc, bình an, học hành đỗ đạt… Những gia đình có con khó nuôi, bị bệnh tật hay thường khóc đêm đều đem đến chùa Nhạn Sơn “gửi bán Phật và hai ngài”. “Năm 1977, đoàn khảo sát từ Hà Nội vào, sau khi nghiên cứu hoa văn ở thắt lưng tượng và nhiều sử liệu khác đã xác định hai pho tượng này có từ thế kỷ 13, thời nước Chiêm Thành còn đóng đô ở thành Đồ Bàn”, hòa thượng Thích Thị Hoàng nói.
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 3: Chuyện liêu trai trong ngôi chùa cổ
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 3: Chuyện liêu trai trong ngôi chùa cổ Chùa Thập Tháp (ở P.Nhơn Thành, TX.An Nhơn, Bình Định) có nhiều câu chuyện truyền miệng hoang đường, nghe đến không ít người phải rùng mình.


Cổng chùa Thập Tháp --->


Quần thể di tích Phật giáo
 
Nhà nghiên cứu Lộc Xuyên Đặng Quý Địch khẳng định chùa Thập Tháp (tên đầy đủ là Thập Tháp Di Đà Tự) do thiền sư Nguyên Thiều (1648 - 1728) kiến tạo rồi làm lễ khai sơn vào năm 1683.
 
Thiền sư họ Tạ, tự Hoán Bích (người Trung Quốc), theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh (nay thuộc tỉnh Bình Định) năm 30 tuổi. Sau chùa Thập Tháp, thiền sư Nguyên Thiều ra đất Thuận Hóa lập chùa Hà Trung, chùa Quốc Ân, tháp Phổ Đồng rồi mất tại đó. Tên chùa Thập Tháp là do nguyên trước đây trên khu đồi xây dựng chùa có 10 ngôi tháp Chăm đã sụp đổ. Ban đầu, chùa Thập Tháp được xây dựng từ gạch của 10 ngôi tháp cổ này.
 
Chùa Thập Tháp là di tích kiến trúc nghệ thuật thế kỷ 19 đã được công nhận di tích cấp quốc gia từ năm 1990. Hiện chùa còn lưu giữ quần thể kiến trúc rất độc đáo, như ngôi chánh điện do thiền sư Thiệt Kiến Liễu Triệt cho trùng kiến vào năm 1749, nhà phương trượng do Quốc sư Phước Huệ xây vào năm 1924... Thời hòa thượng Minh Lý trụ trì chùa Thập Tháp (1871 - 1889) cũng đã tạo lập rất nhiều tượng Phật đến nay vẫn còn.
 
Trong khuôn viên chùa có khoảng hơn 20 tháp mộ của các đời trụ trì với kiến trúc rất độc đáo. Năm 1876, trong lúc tổ chức khai khẩn vùng đất hoang sau chùa, gặp rất nhiều hài cốt của lính Tây Sơn và nhà Nguyễn chết trong trận chiến ở thành Hoàng Đế, hòa thượng Minh Lý cho gom lại, xây một tháp để thờ cúng, ngày nay gọi là tháp Hội đồng.
 
Trụ trì dính nghi án oan tình
 
 Những di tích kỳ bí - Kỳ 3: Chuyện liêu trai trong ngôi chùa cổ 2
Hòn Đá Chém - Ảnh: Hoàng Trọng
 
Đến nay, các hòa thượng và người dân trong vùng vẫn còn lưu truyền câu chuyện về ông Bạch Hổ đi tu tại chùa Thập Tháp. Sau khi sư phụ là hòa thượng Minh Giác mất, hòa thượng Thiệt Kiến Liễu Triệt đang làm trụ trì chùa Thiên Mụ (ở Huế) được gọi về làm trụ trì chùa Thập Tháp.
 
Không những là quần thể kiến trúc độc đáo, chùa Thập Tháp còn lưu giữ nhiều bộ kinh kệ rất quý, như: 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà sớ sao, Kim Cang trực sớ, Pháp Hoa khóa chú... và bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường, bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan.
Một thời gian sau, trong đêm mưa gió, có hai mẹ con nằm trước cổng chùa Thập Tháp. Người mẹ bị câm nên không ai hỏi được gì. Hòa thượng Liễu Triệt cho xây một cái am gần chùa cho hai mẹ con nương náu. Từ đó, người dân trong vùng đồn đoán rằng trong thời gian làm trụ trì chùa Thiên Mụ, hòa thượng Liễu Triệt thường được chúa Nguyễn Phúc Khoát mời vào cung và đã có tơ tình với một phi tần. Kết quả mối tơ tình này chính là đứa con, còn phi tần kia là người mẹ bị câm. Hòa thượng Liễu Triệt không một lời giải thích.
Cũng trong thời gian này, đêm nào chùa Thập Tháp cũng có một con Bạch Hổ đến ngồi trước chánh điện nghe kinh khiến ai cũng sợ hãi. Hòa thượng Liễu Triệt bảo mọi người đừng sợ vì con cọp này không hại ai rồi ra ngoài nói với con cọp: “Hỡi Bạch Hổ! Vì nghiệp nặng phải làm thân súc sinh, hãy cố gắng nghe kinh tu hành có ngày sẽ được thoát kiếp”.
 
Thời gian sau, chúa Nguyễn triệu hòa thượng Liễu Triệt ra Huế để giảng dạy Phật pháp. Đêm trước khi đi, hòa thượng nằm mơ thấy một ông lão đến nói: “Xin thầy ở lại vài hôm để làm lễ cho con, tuổi thọ của con còn ngắn, con ở sau chùa”. Vài hôm sau, không thấy Bạch Hổ đến nghe kinh, hòa thượng biết cọp đã thoát kiếp nên sai đệ tử đi tìm và phát hiện được xác cọp sau vườn chùa. Hòa thượng cho mai táng con cọp tại chỗ, xây tháp và làm lễ đúng 49 ngày. Ban đầu, tháp Bạch Hổ được xây dựng bằng gạch Chăm nhưng đã bị sụp đổ, hiện đã được xây dựng lại, còn bộ xương thì bị kẻ gian lấy mất trong những năm kháng chiến chống Pháp.
 
Trước khi viên tịch, hòa thượng Liễu Triệt tập trung đệ tử lại dạy dỗ lần cuối và đưa ra lời bảo chứng: “Người đời nói oan cho ta dính án tình với cung phi. Ta một đời tu hành thanh tịnh, sau khi xả bỏ báo thân này, tháp của ta cũng sẽ luôn luôn tinh bạch”. Quả nhiên, cho đến ngày nay, tháp của hòa thượng Liễu Triệt vẫn còn trắng và mọi người quen gọi đó là Tháp Trắng.
 
Hòn đá chém oán hờn
 
Tương truyền rằng, sau khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù. Nhiều người ra trình diện thì Nguyễn Ánh nuốt lời, mang ra chém sạch. Tảng đá dùng để kê đầu tôn thất nhà Tây Sơn lên chém được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế. Từ đó, hằng đêm trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, đòi mạng thống thiết, người dân và quan quân nhà Nguyễn không ai dám đi ngang qua cổng thành.
 
Để cứu chúng sinh, một vị trụ trì chùa Thập Tháp xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, nhà sư cho người mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Hòn đá được đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Nhưng nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng. Vào những đêm mưa gió, người ta thường thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ Hòn Đá Chém. Khi chó trong chùa sủa là bóng người phụ nữ kia biến mất.
 
Đến thời hòa thượng Phước Huệ làm trụ trì, Hòn Đá Chém được chuyển vào để ngay bậc tam cấp trước khu Phương Trượng, sau lưng Chánh điện của chùa để thường xuyên được nghe kinh kệ, giải tỏa những oan khiên. Theo nhà sư Mật Hạnh, đệ tử của nhà sư Phước Huệ, cách đây vài chục năm, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hằng năm vào lúc giao thừa trước Tết Nguyên đán, đến khi đổ 3 hồi trống chiêng là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi mất.
 
Ngày nay, Hòn Đá Chém vẫn còn đặt tại cửa khu phương trượng của chùa Thập Tháp (cao khoảng 40 cm, dài 1,5 m, rộng 1,3 m) nhưng chuyện ma quái không còn xuất hiện. Hằng năm, đến ngày giỗ hòa thượng Phước Huệ (18 tháng giêng âm lịch), hàng ngàn phật tử đến dự, nhìn Hòn Đá Chém, không ít người rơi nước mắt nhớ đến những anh hùng, hào kiệt thời Tây Sơn.
 
 Những di tích kỳ bí - Kỳ 4: Tường thành cổ dưới biển
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 4: Tường thành cổ dưới biển Đầm Thị Nại (tỉnh Bình Định) là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, quyết định số phận của các vương triều như: Chămpa, Tây Sơn, triều Nguyễn...



Bờ thành ở vùng biển Nhơn Hải được nhìn thấy khi thủy triều xuống - Ảnh: Ngọc Nhuận--->
 
 
Vùng biển gần bờ xã Nhơn Hải (TP.Quy Nhơn) tồn tại một bờ thành chìm trong lòng biển, chỉ nhìn thấy khi thủy triều xuống. Bờ thành này nối liền vách đá thôn Hải Nam ra đến đảo Hòn Khô của thôn Hải Đông. Bề mặt thành phẳng, rộng hơn 10 m, độ cao của thành chưa xác định được. Những ngư dân làm nghề thợ lặn khẳng định bờ thành này không xây bằng đá hoặc gạch mà bằng hồ vữa đặc nguyên khối.
 
Thôn Hải Giang (cách bờ thành nói trên hơn 5 km) cũng có bờ thành chìm dưới lòng biển, thủy triều xuống sẽ nhìn thấy đoạn dài hơn 3 km ở gần bờ, người dân địa phương gọi là Rạng Cầu. Hai đoạn bờ thành này có kết cấu giống nhau, nên nhiều người cho rằng đó là một tường thành kéo dài. Tuy nhiên, không ai tính chính xác tường thành này dài đến đâu và được xây dựng từ thời nào.
 
Vùng núi thôn Hải Giang lại có một lũy đá kéo dài, bao quanh đỉnh núi Tam Tòa (thuộc hệ thống núi Phương Mai) của khu vực Hải Minh (P.Hải Cảng, TP.Quy Nhơn). Lũy được xây dựng bằng cách xếp chồng những viên đá núi có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở những nơi còn nguyên vẹn, chiều cao của lũy đá khoảng từ 1 - 1,5 m, đáy rộng 2 m, bề mặt rộng 1,2 m.
 
 Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, bờ thành Nhơn Hải và lũy đá trên núi Tam Tòa là những công trình phòng thủ khác nhau. Theo thư tịch cổ để lại thì người Chămpa xây dựng 4 thành lớn tại Bình Định gồm: Thị Nại (H.Tuy Phước), Đồ Bàn (TX.An Nhơn), Chas (TX.An Nhơn), Uất Trì (H.Tây Sơn) và một số thành nhỏ khác. Nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện có tư liệu nào nhắc đến bờ thành được xây dựng ở vùng biển Nhơn Hải. “Bờ thành ở Nhơn Hải là một di tích rất lạ, tường thành nằm dưới nước hàng trăm năm qua vẫn còn nguyên vẹn chứng tỏ kỹ thuật xây dựng của người Chămpa rất độc đáo”, TS Hòa nói.
 
Theo TS Đinh Bá Hòa, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ có ghi chép vào tháng 8 năm Canh Tý (1840), vua Minh Mạng cho xây dựng pháo đài Hổ Ky ở cửa biển Thị Nại, chính quyền địa phương đã huy động trên 500 dân phu tham gia xây dựng. Sau lưng pháo đài Hổ Ky, trên đỉnh núi Phương Mai là một hệ thống thành lũy yểm trợ, được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt là gò Vũng Tàu và gò Kinh Để.
Phòng tuyến gò Kinh Để có nhiệm vụ ngăn không cho quân địch tiến từ sườn phía đông để tấn công pháo đài Hổ Ky vào phía bên trong cửa Thị Nại. Còn phòng tuyến gò Vũng Tàu để ngăn quân bộ tấn công mặt tây của pháo đài Hổ Ky và chiếm cửa biển Thị Nại.
 
 
“Thị Nại có âm gốc tiếng Chămpa gọi đầy đủ là Thi Lị Bi Nại, tên phiên âm chữ Cri-Banoi là tên hải cảng của Vương quốc Chămpa. Thời Chămpa và thời Tây Sơn, Thị Nại có vai trò rất quan trọng, vừa là quân cảng và vừa là thương cảng rất sầm uất”.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn(TP.Quy Nhơn, Bình Định)
Những trận thủy chiến nổi tiếng
 
Đầm Thị Nại là cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường thủy nên triều đại nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ để trấn giữ. Thời Chămpa có xây thành Thị Nại, tháp Bình Lâm. Thời Tây Sơn, thủy quân cũng đóng bản doanh tại đầm Thị Nại và núi Tam Tòa. Thành Thị Nại đóng vai trò là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Chămpa nên các cuộc tấn công bằng đường thủy thường nhắm vào thành này.
 
Trận thủy chiến đầu tiên tại thành Thị Nại được sử sách ghi lại là trận chiến chống quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy xâm lược Chămpa vào cuối năm 1282. Thủy binh do Toa Đô chỉ huy tiến đánh thành Thị Nại quá mạnh, quân Chămpa phải rút lui.
 
Khoảng thời gian từ năm 1792 - 1801, thủy quân của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đã có 5 lần giao chiến tại đầm Thị Nại. Các trận năm 1792, 1793, thủy quân Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại nhưng đều phải lui binh. Lần thứ 3, năm 1799, đại quân Nguyễn Ánh vượt qua được cửa Thị Nại, đánh chiếm luôn thành Hoàng Đế (cũng là nơi xây dựng thành Đồ Bàn cũ). Năm sau, quân Tây Sơn từ kinh thành Phú Xuân (Huế) do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy lại được Thị Nại rồi giao cho Võ Văn Dũng trấn thủ, sau đó kéo quân vây đánh thành Hoàng Đế. 
 
Năm 1801, Nguyễn Ánh cho đại binh ra đánh Thị Nại nhằm giải vây cho thành Hoàng Đế. Đây là trận đại chiến lớn nhất từ trước đến nay tại đầm Thị Nại. Trong sách Nhân vật Bình Định, tác giả Đặng Quý Địch dẫn lại tư liệu của ông Barizy (một người ngoại quốc có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại) khẳng định quân Tây Sơn tại cửa Thị Nại gồm có 557 tàu chiến lớn nhỏ, 1.827 đại bác các cỡ và 53.250 thủy quân. Thủy quân của nhà Nguyễn có 91 thuyền chiến, 91 đại bác, 10.400 lính và lực lượng rất đông quân bộ ở Phú Yên tấn công ra.
 
Theo ông Barizy, quân hai bên đánh nhau rất dữ dội vào đêm rằm tháng giêng năm Tân Dậu (1801). Quân Nguyễn tập kích rất bất ngờ, đốt rất nhiều thuyền chiến của quân Tây Sơn. Các thuyền chiến và pháo hạm hai bên cầm cự đến chiều ngày 16 tháng giêng thì quân Tây Sơn bị vỡ trận, Võ Văn Dũng dẫn thủy quân rút lui. Trận này, 4.000 quân của Nguyễn Ánh bị tử thương, thuyền quân Tây Sơn bị đốt gần hết. “Lũy đá cổ trên núi Tam Tòa đã được nhắc đến trong sử sách triều Nguyễn nhưng có thể đã có từ các triều đại trước và nhà Nguyễn cho xây dựng lại. Cuối thế kỷ 18, quân Tây Sơn đã thiết lập đồn, đặt đại bác ở núi Tam Tòa, khống chế cửa biển Thị Nại. Ngày nay, người dân và các cơ quan chức năng đã trục vớt 14 khẩu súng thần công tại đầm Thị Nại là những chứng tích còn lại của trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân nhà Nguyễn. Chắc chắn trong khu vực đầm Thị Nại còn rất nhiều dấu tích liên quan đến những trận chiến này nên cần phải được nghiên cứu thêm”, TS Đinh Bá Hòa nói.
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 5: Khu lăng mộ bí ẩn
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 5: Khu lăng mộ bí ẩn Khu di tích Gò Lăng (ở thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, H.Tây Sơn, Bình Định) được các nhà nghiên cứu và người dân địa phương nghi ngờ là khu lăng mộ của nhà Tây Sơn.


Ông Mai Văn Châu bên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn đang bị hoang phế--->

Lăng mộ 'ông nội vua nước Việt'
 
Đầu năm 2013, trong lần trở lại viếng lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn (ở thôn Phú Lạc) - ông nội của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn (90 tuổi, ở TP.Quy Nhơn, Bình Định) đã bật khóc khi chứng kiến cảnh hoang phế. Theo cụ Liễn, dù đã được phát hiện hơn 20 năm qua, nhưng ngành văn hóa tỉnh Bình Định ngoài việc công nhận là di tích cấp tỉnh vào cuối năm 2012 vẫn chưa có động thái nào đáng kể trong việc trùng tu, bảo vệ ngôi mộ cổ này.
 
Tháng 4.1990, trong quá trình đào đất đắp đường, người dân địa phương phát hiện được một tấm bia mộ làm bằng đá (cao 125 cm, rộng 68,5 cm, dày 13 cm) nằm sâu dưới đất ruộng ở làng Phú Lạc. Trên tấm bia có 3 dòng chữ Hán, được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đọc và dịch nghĩa. Dòng chính giữa có 15 chữ lớn đọc là “Việt Cố Hoàng Hiển Tổ Khảo Cang Nghị Mưu Lược Minh Triết Công Chi Lăng”, nghĩa là: Lăng mộ ông nội đã qua đời của nhà vua nước Việt, ông là một vị minh triết, mưu lược, cương nghị. Dòng chữ nhỏ bên phải đọc là “Tuế thứ Kỷ Hợi Trọng Xuân Cốc Nhật”, nghĩa là: Ngày lành tháng hai năm Kỷ Hợi. Dòng chữ nhỏ phía trái là “Ngự Chế”, nghĩa là: Nhà vua lập bia.
 
Tấm bia này được xác định là của ngôi mộ cổ cách đó khoảng 15 m. Ngôi mộ cổ nằm trên một gò cao khá rộng, chung quanh là ruộng lúa, chính giữa chân mộ còn dấu vết chỗ cắm bia đã bị gỡ từ trước. Mộ có 2 vòng thành trong, vòng ngoài, giữa hai vòng cách nhau 60 cm, cách mộ chừng 4 - 5 m còn dấu vết một vòng thứ ba. Ngôi mộ cổ này nằm cách di tích Gò Lăng, nơi có nền và vườn nhà của ông bà Hồ Phi Tiễn và bà Nguyễn Thị Đồng (được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988) khoảng 500 m.
 
 Tấm bia trên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn - d
Tấm bia trên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn - Ảnh: Hoàng Trọng
 
Qua nghiên cứu tấm bia và nhiều tư liệu lịch sử khác, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn xác định ngôi mộ cổ là lăng mộ của ông Hồ Phi Tiễn. Lăng mộ này do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc xây dựng vào năm 1779 (năm Kỷ Hợi), sau khi lên ngôi hoàng đế chừng mấy tháng. Tổ tiên của Nguyễn Nhạc là ông Hồ Phi Long, từ xứ Nghệ vào Bằng Châu (Bình Định) phối hôn với bà họ Đinh (người Bằng Châu) sinh ra ông Hồ Phi Tiễn. Ông Tiễn lên Phú Lạc buôn trầu, hôn phối với bà Nguyễn Thị Đồng (con một gia đình giàu có ở Phú Lạc) rồi cất nhà ở luôn bên vợ.
 
Ông Tiễn và bà Đồng sinh được một con trai là Hồ Phi Phúc, về sau đổi họ thành Nguyễn Phi Phúc. Ông Nguyễn Phi Phúc hôn phối với bà Mai Thị Hạnh (tức bà tổ cô của Mai Xuân Thưởng), sinh hạ được ba con trai là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. “Lý do đổi họ Hồ thành họ Nguyễn không phải vì nguyên nhân chính trị như lâu nay người ta nói mà chính vì lý do kinh tế. Bà Nguyễn Thị Đồng là con gái độc nhất của gia đình, để đủ tư cách kế thừa hợp pháp món gia tài của cha mẹ bà để lại nên bà Đồng bàn với ông Hồ Phi Tiễn đổi họ con từ Hồ thành Nguyễn, nghĩa là theo họ mẹ. Nhiều ý kiến nói bà Đồng là mẹ của 3 anh em nhà Tây Sơn là không chính xác, phải là bà nội mới đúng”, cụ Vũ Ngọc Liễn khẳng định.
 
Còn nhiều lăng mộ chưa phát hiện ?
 
Di tích lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn và di tích Gò Lăng hiện do ông Mai Văn Châu (62 tuổi, ở thôn Phú Lạc) trông coi. Ông Châu là con cháu dòng họ của bà Mai Thị Hạnh. Theo ông Châu, gia đình họ Mai dời đến ở tại khu vực Gò Lăng đã hơn 4 đời. Khi mới đến, khu vực Gò Lăng vốn bỏ hoang, cây cối rậm rạp, trong quá trình phát dọn thì họ Mai phát hiện được ngôi mộ cổ mà sau này được xác định là của ông Hồ Phi Tiễn. Người họ Mai tự nguyện trông coi và chọn ngày mồng một tết cúng cơm ngôi mộ, tục lệ này tồn tại cho đến ngày nay. “Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã nghe các cơ quan chức năng có kế hoạch trùng tu ngôi mộ của ông (cụ Hồ Phi Tiễn - PV) nhưng đâu thấy động tĩnh gì. May mà người dân chúng tôi rất có ý thức bảo vệ mộ ông chứ không thì nó sẽ bị xâm hại, xuống cấp hơn nữa”, ông Châu nói.
 
Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, ngôi mộ ông Hồ Phi Tiễn là ngôi mộ duy nhất của dòng họ nhà Tây Sơn còn tồn tại cho đến ngày nay. Ngôi mộ này đã tránh được những đòn trả thù tàn bạo của vua Gia Long Nguyễn Ánh là nhờ người thời đó có công chôn giấu bia mộ một cách chu đáo. Hiện tấm bia này đã được mang về Bảo tàng Quang Trung để lưu giữ, trưng bày. “Xung quanh khu vực Gò Lăng có thể còn nhiều ngôi mộ cổ khác liên quan đến dòng họ nhà Tây Sơn nhưng đang bị vùi lấp dưới đồng ruộng cũng nên. Dân gian lưu truyền địa danh Gò Lăng mà chỉ có một lăng mộ và một cái miếu cổ nhỏ bé gọi là miếu Gò Lăng thì cũng hơi vô lý. Lăng mộ của cụ Hồ Phi Tiễn ở đây còn lăng mộ của bà Nguyễn Thị Đồng ở đâu? Khu di tích Gò Lăng phải được tiếp tục đầu tư nghiên cứu”, cụ Vũ Ngọc Liễn nói.
 
Tại gò Thỏ (ở thôn Vĩnh Long, xã Cát Hanh, H.Phù Cát, Bình Định), có ngôi mộ “Bà Vua” được xác định là mộ bà Nguyễn Thị Bích, thứ phi vua Quang Trung. Trước kia, mộ "Bà Vua" chỉ là một nắm đất nhỏ, không bia, không rõ danh tính, nhưng họ Nguyễn ở xã Cát Hanh vẫn tổ chức cúng giỗ hằng năm. Năm 1997, sau khi tra cứu gia phả, các nhà sử học khẳng định bà Nguyễn Thị Bích là vợ vua Quang Trung. Theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung (Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2003) của TS Đỗ Bang, bà Bích, quê ở Mỹ Chánh (xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị), mất ngày 10 tháng 9, mộ táng tại gò Thỏ, thôn Vĩnh Ân (nay là thôn Vĩnh Long). Sau khi nhà Tây Sơn mất, bà Bích đến nương náu nhà người anh tên Nguyễn Văn Tuấn. Ông Tuấn làm quan thơ lại ở cửa biển Đề Gi và sống ở quê vợ tại thôn Vĩnh Ân.

Những di tích kỳ bí - Kỳ 6: Ông Núi linh thiêng
 
Những di tích kỳ bí - Kỳ 6: Ông Núi linh thiêng Dân gian lưu truyền rằng người sáng lập ra chùa Linh Phong tại núi Bà (ở thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, H.Phù Cát, Bình Định) là ông Núi, một tu sĩ rất bí ẩn.


Tháp mộ ông Núi - Ảnh: Hoàng Trọng---->


Bậc chân tu
 
Người dân Bình Định quen gọi chùa Linh Phong là chùa Ông Núi. Những dấu tích về ông Núi ngày nay chỉ còn lại ngôi mộ tháp và hang Tổ ở sau chùa Linh Phong. Hang Tổ nằm sát mép suối, đá tự nhiên che kín cả 3 mặt như một ngôi nhà. Tương truyền rằng đây chính là hang đá mà ngày xưa ông Núi từng ở, từng ngồi niệm kinh tụng Phật. Phật tử đã tạo dựng tượng ông Núi và các vị Phật để thờ tại chùa. Theo ông Võ Hợi (67 tuổi, ở thôn Phương Phi), người được giao việc trông coi hang Tổ, ông Núi rất hiển linh nên ngày nào cũng có người đến dâng hương, cầu xin sức khỏe, tài lộc, học hành... Hằng năm, vào ngày 25 và 26 tháng giêng âm lịch, chùa Linh Phong có lễ hội lớn, hàng ngàn du khách đến hang Tổ để cầu khấn.
 
“Ông bà chúng tôi kể lại rằng, khi còn sống, hằng ngày ông Núi vào rừng đốn củi, bó thành bó lớn rồi vác xuống núi đặt bên đường. Người qua đường biết đó là củi của ông Núi nên đem rau gạo đến đổi. Ông Núi xuống lấy gạo, rau quả rồi đi mà chưa từng đối đáp với ai về việc đổi chác ít hay nhiều. Mỗi ngày ông ăn đúng 2 lon gạo, nếu đổi được nhiều thì ông đem cho người khác chứ không giữ lại. Ông Núi còn hái thuốc và chữa bệnh cho nhiều người dân trong vùng”, ông Võ Hợi kể.
 
 
Đại hồng chung chùa Linh Phong (hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng H.Phù Cát) có khắc tên một danh tướng của chúa Nguyễn là Tống Phước Hiệp (và tên con trai, con gái), cùng phụ tá của ông là Nguyễn Khoa Thuyên (và tên vợ con). Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, năm 1774, quân Tây Sơn đánh Bình Thuận, Tống Phước Hiệp cùng Nguyễn Khoa Thuyên nhận được lệnh phát hịch gọi binh đi đánh Tây Sơn. Trong chiến dịch này, Tống Phước Hiệp bắt gặp đại hồng chung chùa Thiên Phước (ở Vĩnh Long ngày nay) nên cùng với Nguyễn Khoa Thuyên cho thợ khắc chữ lên chuông rồi tiến cúng cho một vị sư. Đến nay vẫn chưa rõ Tống Phước Hiệp tiến cúng đại hồng chung cho vị sư nào và tại sao đại hồng chung này lại có tại chùa Linh Phong.
Những câu chuyện về ông Núi và chùa Linh Phong cũng được ghi chép trong các tư liệu như: Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, bài Linh Phong tự ký của Đào Tấn (1845 - 1907), Mộc Y tử thuyết của Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925)... Theo bài Linh Phong tự ký, năm 1702 tại vùng núi thôn Phương Phi có người tu hành là Mộc Y Sơn Ông (người dân gọi là ông Núi) kết vỏ cây làm áo, mùa đông hay mùa hạ vẫn mặc như thế, ung dung sống bên sườn núi, trong hang đá. Nhà tu hành này có tên Lê Ban, người Trung Quốc. Nhà sư Lê Ban ở vùng núi thôn Phương Phi được vài năm thì xây dựng một am nhỏ tên Dũng Tuyền tự để tu hành.
 
Đến năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú khen Sơn Ông là bậc chân tu, sai trùng tu Dũng Tuyền tự và đặt tên chùa là Linh Phong, ban cho ông pháp hiệu Tịnh Giác Thiện Trì đại lão thiền sư. Năm 1741, chúa Nguyễn Phúc Khoát triệu Sơn Ông vào kinh để hỏi về giáo lý đạo Phật. Ông ở kinh gần một tháng thì về và được chúa ban một bộ áo cà sa có vòng ngọc móc vàng làm pháp phục. Ông mất năm 1785 dưới thời Tây Sơn.
 
Quốc sử quán triều Nguyễn cũng có ghi chép những lần triều đình cấp kinh phí trùng tu chùa Linh Phong vào thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thành Thái. Vào thời Minh Mạng, một hôm nhà vua bị bệnh, vừa chợp mắt thì mộng thấy một vị sư già mặc áo vỏ cây đứng bên giường hầu quạt, đến sáng thì khỏi bệnh. Khi ngự triều, nhà vua đem giấc mộng hỏi các quan, có người tâu rằng vị sư già đó là Mộc Y Sơn Ông ở chùa Linh Phong. Vua Minh Mạng ban cho chùa này một chiếc áo cà sa mới để thờ, đồng thời cấp 120 lượng bạc để trùng tu lại chùa. Đó là vào năm 1826. 
 
Thắng cảnh nổi tiếng
 
Năm 1965, chùa Linh Phong bị thiêu rụi hoàn toàn do chiến tranh. Đến năm 1994, Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Định cử hòa thượng Huệ Quang làm trụ trì chùa Linh Phong và công việc tái thiết chùa diễn ra liên tục đến năm 2004 mới hoàn thành như ngày nay. “Khi chúng tôi đến chùa Linh Phong lần đầu tiên chỉ thấy toàn cỏ dại, những đồ vật của chùa ngày xưa không cháy cũng bị kẻ gian lấy cắp. Phật tử phải phát dọn rất nhiều thời gian mới có được con đường lên chùa, nền chùa và dấu vết 18 mộ tháp của các trụ trì đời trước mới lộ ra”, hòa thượng Huệ Quang cho biết.
 
Dù vậy, những tư liệu cũ để lại đều khẳng định chùa Linh Phong từng là danh thắng trước khi bị phá hủy. Sách Đại Nam nhất thống chí miêu tả: “Như chùa này (chùa Linh Phong - PV), lưng dựa non cao, mặt trông ra đầm Hải Hạc (nay gọi là đầm Thị Nại). Gần chùa có suối trong lượn quanh, vị nước vừa ngọt vừa mát lạnh, cỏ hoa xinh đẹp, cảnh trí u nhã kỳ bí, cũng là cảnh đẹp đáng xem của một phương vậy”.
 
Sách Đại Nam dư địa chí ước biên của Cao Xuân Dục (triều Nguyễn) chép: “Mây lành khắp chốn, chùa Linh Phong bao bọc hoa tươi” và có câu đối bằng chữ Hán, dịch ra như sau: Bờ biển dấy duyên lành, mưa móc khắp trời nhuần đẹp đất/Linh Phong ngưng khí tốt, mây lành mọi chốn phủ nhân gian.
 
Ngày nay, di tích lịch sử văn hóa quốc gia chùa Linh Phong là điểm viếng Phật, ngắm cảnh của rất nhiều người dân tỉnh Bình Định và du khách. Từ chân núi Bà, phải đi bộ qua hàng trăm bậc đá mới đến được chùa. Từ chùa Linh Phong, có thể nhìn dãy núi Bà hùng vĩ, cảnh làng quê thanh bình dưới chân núi, xa hơn là đầm Thị Nại bên cạnh TP.Quy Nhơn.
 

Thăng Long đất rồng bay

Thăng Long đất rồng bay
 
Thăng Long đất rồng bay Phong thủy

Với cái nhìn đất cát, phong thủy thì Hà Nội chỉ là một dải phù sa trên đất của sông Nhị. Nói đúng hơn, Hà Nội gốc được bao quanh bởi 3 sông: Nhị Hà, Tô Lịch, Kim Ngưu.
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này.
Tờ chiếu của Lý Công Uẩn viết tháng hai năm Canh Tuất (1010) hỏi ý kiến quần thần về việc dời đô từ thành Hoa Lư ra thành Đại La của Cao Vương (thầy phong thủy – theo Trần Quốc Vượng) nhằm mục đích “đóng nơi trung tâm, mưu toan việc lớn cho muôn đời con cháu mai sau”. Ông phân tích vị thế  Đại La: “Tiện hình thế núi sau, sông trước” . Trước mặt Đại La là sông Nhị, sau lưng Đại La là núi Tản Viên (Ba Vì) “long bàn hổ cứ”, rồng cuộn bên tả (tả thanh long), tức bên Đông là sông, hổ ngồi bên hữu (hữu bạch hổ) tức bên Tây là núi, nhà vua “nam diện xưng vương, xưng đế”; Điện ngự triều, ngai vàng đặt giữa, hướng về phía nam. Tháng Bảy năm ấy, cử hành lễ dời đô, thuyền ngự đậu bến Đông thành Đại La (sau sử gọi là Đông Bộ Đầu – chỗ dốc Hàng Than – Hòe Nhai ngày nay). Tháng Bảy cuối hè đầu thu, mùa mưa dông – mưa Ngâu, trời đầy mây, gió nồm cuồn cuộn thổi. Vua và quần thần cho đấy là điềm “Long Vân khánh hội” (Rồng – Mây mừng họp), bói theo Dịch học là quẻ Càn tượng nhà vua: “Tiềm long vu thủy” (Rồng ẩn đáy nước), “Hiện long vu điền” (hoặc “đại trạch” – Rồng hiện trên ruộng đầm nước bốc hơi thành mù mây); “Phi long tại thiên” (Rồng bay lên trời làm mây mưa).
Vì thế, đổi tên kinh đô là Thăng Long: Thành Rồng bay, cái chí cực, chí thịnh vượng của văn mình nông nghiệp lúa nước! Tâm thức người xưa, theo tôi hiểu là như vậy!
Đền tứ trấn
Mặt trời mọc phía Đông, trên dải ngàn dâu xanh ngắt dọc bờ bãi sông Nhị. Đấy là phường Giang Khẩu, cửa Tô Lịch Giang từ sông Nhị mở vào. Đấy là đền Bạch Mã trấn ở phía Đông  kinh thành (Nay ở 76 Hàng Buồm). Đông Bộ Đầu là quân cảng (còn lại bia đá cổ đặt trong chùa Hòe Nhai), từ  Hoàng thành đi ra dọc đường Hòe (Đông Hòe: Hòe Nhai, Tây Liễu: Liễu Giai – đường Đội Cấn ngày nay). Giang Khẩu là thương cảng: bến thuyền, “trên bến dưới thuyền”, đấy là chợ Đông Bạch Mã là tượng mặt trời chủ tể.
Rồi mặt trời sẽ lặn đằng Tây, gác non Đoài. Quẻ Đoài của Dịch học là tượng đại trạch (đầm lớn). Đó là đầm/hồ Linh Lang, trên bờ có thờ thần Linh Lang “Ông Thiêng” là một vị thủy thần, sau được lịch sử hóa thành hoàng tử nhà Lý. Nay gọi là đền Thủ Lệ (“thủ lệ” là dân được cắt cử trông coi đền).
Phía Bắc mịt mù, hướng xấu, tượng là Huyền Vũ (rùa đen), có đền trấn trạch, đời Lý gọi là Quán Bắc đế, sau gọi là Quán Chân Vũ, dân gian Hà Nội quen gọi là đền Quan Thánh. Đấy là ngã ba Kim Ngưu chảy về Tây, cửa thông với Dâm Đàm (Đầm mù sương), sau gọi là Hồ Tây, Tây Hồ, cũng có một tên khác là hồ Kim Ngưu bao gồm cả Hồ Tây – Trúc Bạch (đường Cổ Ngư nay là Thanh Niên, chia hai hồ có cống thông, mãi đầu thế kỷ XVII thời Lê – Trịnh mới đắp).
Phía Nam khi ấy và sau này nữa cũng còn lầy lội lắm (ô Đồng Lầm: ngã tư Kim Liên – Đại học Bách Khoa ngày nay) – tượng Chu tước (chim sẻ đỏ) đậu cao, nên lập đền thờ đấng Cao Sơn (núi cao, một hóa thân của Thánh Tản), sau chuyển thành Đình Kim Liên.
Các cửa nước và chợ bến
Đấy là 4 đền tứ trấn tứ phương cổ truyền của kinh thành Thăng Long. Vẽ ghi bốn đền đó lên bản đồ Hà Nội hiện đại, ta sẽ hiểu được thành cổ Thăng Long với giới hạn Đông, Tây, Nam , Bắc. Đó là một tứ giác nước, nói theo lý thuyết quy hoạch hiện đại, Thăng Long là một thành phố mà sông viền quanh Bắc sang Đông và Tây, Nam là hồ lớn, cũng có sông Tô Lịch, Kim Ngưu chảy quanh – Tây Hồ, Bảy Mẫu.
Đồng Lầm có vải nâu non
Có hồ cá rộng có con sông dài
Sông nước vây quanh Thăng Long thành; Nhà nước quân chủ và dân bách tính đắp đê đắp lũy ven sông nối với nhau, thì sẽ trở nên La Thành, Đại La thành (thành lũy lớn vây quanh kinh thành – sau gọi là đường Đê La Thành mà các nhà quy hoạch hiện nay gọi là “đường vành đai” thành phố.
Nhưng xin nhớ: đây không phải là đất Hoa Bắc khô hạn, lũy thành đóng kín. Đây là đất Việt. Phương Nam nóng - ẩm – gió – mưa nhiệt đới nên sông hồ đều có cống thông nhau, lũy thành đều có cửa nước (như ở cố đô Huế có “tên chữ” là Đông thành thủy quan, Tây thành thủy quan).
Thăng Long – Hà Nội xưa, các cửa ô chính đều là cửa nước. Vài ví dụ: Ô Bưởi, đời Lý gọi là Hồng Tân (bến Hồng). Ngã ba Tô Lịch – Thiên Phù – Ô Cầu Giấy (đời Lý gọi là cầu Tây Dương); Ngã ba Tô Lịch – Kim Ngưu; Ô Chợ Dừa, Ô Đồng Lầm, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác (Ông Mạc); ngã ba Kim Ngưu và các chi nhánh, quan trọng nhất là sông Sét, sông Lừ…Và do đó các chợ cửa ô đều là chợ bến.
Thành và Hoàng thành
Lãnh thổ Thăng Long “cốt” cao nhất hiện nay là vùng quận Ba Đình: “cốt” Núi Voi 12m, “cốt” Hội trường Ba Đình 5.6m; ở đấy Nhà nước xây Hoàng thành, có sông Tô Lịch chảy dọc đường Quán Thánh làm hào phía Bắc; có Ngọc Hà , Kim Ngưu làm hào phía Tây (chảy xuôi về Nam dọc đường Lê Trực qua cống Cát Linh xuống Hào Nam); có Bích Câu (chảy dọc đường Hàng Đẫy- Nguyễn Thái Học) làm hào phía Nam… Thành phố mở 4 cửa: Cửa Đông Tường Phù (Điềm tốt lành) mạn 10 Hàng Cân – 30 Hàng Đường; cửa Tây Quảng Phúc (Phúc rộng lớn) mạn Hùng Vương – chùa Một Cột; Cửa Nam Đại Minh (Sáng rực rỡ) phía chợ Cửa Nam – Đình Ngang – Cấm Chỉ; Cửa Bắc Diệu Đức (Đạo đức huyền diệu) mạn cửa Bắc bây giờ. Ngoài 4 cửa, mở 4 chợ Đông, Tây, Nam, Bắc mà lịch sử về sau xê đi dịch lại thành chợ Đồng Xuân (trước cửa Hàng Buồm – Đông), chợ Ngọc Hà (Tây), chợ Châu Long (Bắc), chợ Cửa Nam (Nam). Cửa Đông, Tây, Bắc: Tam quan; Cửa Nam: Ngũ quan.
Trong Hoàng thành, xây dựng các cung, các điện. Năm 1997, ta xây lại hội trường Trung tâm báo chí quốc tế, đào móng thấy được nhiều gạch, ngói thời Lý – Trần – Lê . Trước đó 1973, xây lăng Bác, đào móng tìm được cả gạch xây giống thế kỷ IX phía ngoài cửa thành (Giang tây quân), nhiều gạch, ngói, gốm, sứ Lý – Trần – Lê .
Năm 1998, Quân đội ta trao lại cho ngành văn hóa quản lý một phần khu thành Nội gồm Cột Cờ (Nguyễn, 1814), Đoan Môn (cửa Nam trang, Lê), Hậu Lâu (Nguyễn – còn gọi là Lầu công chúa).
Đào tham sát ở trước Hậu Lâu , sau mở rộng thêm, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nền cung điện Long Thụy – Long An đời Lý (có bệ đá đỡ chân cột chạm khắc hình hoa sen) ở sâu 3.2m cách mặt đất hiện nay, nền cung điện Lê sơ và Lê mạt cùng nhiều gạch ngói, gốm, sứ…Việc khai quật khảo cổ ở trong thành Nội còn nhiều hứa hẹn.

 
Theo Sách Hà Nội 36 góc nhìn

Lý giải địa thế Hồ Con Rùa - chứng nhân của lịch sử

Lý giải địa thế Hồ Con Rùa - chứng nhân của lịch sử
 
Lý giải địa thế Hồ Con Rùa - chứng nhân của lịch sử Hồ Con Rùa không phải là hồ tự nhiên, và giờ cũng không thấy con rùa nào. Tuy nhiên, Hồ Con Rùa lại có lịch sử hình thành và gắn liền với sự thịnh suy của các "triều đại" cũ trên đất Sài thành.

Chuyện Nguyễn Văn Thiệu trấn yểm long mạch ở Sài Gòn


Trước 1836: là cổng thành
 
Trước năm 1790, vị trí này là cổng thành Bát Quái (tiền thân của thành Gia Định) do Gia Long xây dựng. Sau năm 1833, Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt chiếm thành, chống lại triều đình. Đến năm 1836, quân triều đình lấy lại thành và phá bỏ để xây thành mới là Gia Định. Lúc này, cổng thành Bát Quái cũ trở thành nằm bên ngoài thành, trên đường xuống bến sông.
 
Thời Pháp: là tháp nước
 
Người Pháp chiếm được thành Gia Định, san phẳng vào năm 1859 và tiến hành quy hoạch lại Thành phố. Vịtrí Hồ Con Rùa hiện nay nằm ngay cuối con đường dẫn ra bến sông được đánh số 16. Trên con đường này, dinh Thống đốc đầu tiên được xây dựng. Năm1865, Thống đốc Nam Kỳ đặt tên con đường số 16 là đường Catinat. Một tháp nước cũng được xây dựng ở vị trí Hồ Con Rùa để cung cấp nước cho dân cư.
 
Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không đủ sức đáp ứng nhu cầu phát triển.
 
Sau 1921: là giao lộ
 
1921, con đường Catinat được mở rộng nối dài đến đường Mayer (đường Võ Thị Sáu). Từ đó vị trí này trởthành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre. Cắt giao lộ là đường Testard (Võ Văn Tần, Q.3 bây giờ) và đường Larclauze (Trần Cao Vân, Q.1).
Tại vị trí này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp, người dân ở đây thường gọi là Công trường ba hình. Đến năm 1956 thì bị người Việt phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ trong quần thể tượng đài và được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
 
Hồ Con Rùa năm 1947 - Ảnh: Internet
 
Tổng thống Thiệu: xây Hồ Con Rùa để "ghìm" đuôi Rồng
 
Sự kiện xây Hồ Con Rùa lại gắn liền với một công trình quan trọng khác của chế độ Việt Nam Cộng hòa: Dinh Độc Lập.
 
Ngô Đình Diệm đang xây Dinh Độc Lập thì bị ám sát năm 1963. Theo thuật phong thủy, vị trí xây dựng của Dinh Độc Lập nằm trên đầu của Long mạch, nên nơi đây còn có tên gọi khác là Phủ Đầu Rồng. Vị trí đuôi rồng thì nằm ở khu vực Hồ Con Rùa.
 
Rút kinh nghiệm từ kết quả thảm khốc của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời thầy phong thủy về nghiên cứu kỹ lại Long mạch. Long mạch này có thế của một con rồng đang nằm ngủ. Đuôi rồng nằm cách đó gần 1km, rơi vào vị trí Công trường Chiến Sĩ. Mỗi khi rồng thức dậy, sẽ quẫy đuôi, và những gì xây dựng trên Long mạch này sẽ sụp đổ.
 
Vì lý do đó, Nguyễn Văn Thiệu đã cho xây dựng Hồ Con Rùa ở vị trí đuôi rồng với hy vọng con rùa nặng nề là một trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) có khả năng trấn giữ đuôi rồng, không cho rồng vùng vẫy khi thức dậy!
 
Kiến trúc Hồ Con Rùa có 5 cột trụ tụ lại thành hình cái tháp, khu trung tâm là một con rùa bằng kim loại, trên lưng có đội 1 bia đá. Hình dáng tháp cao này giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng.
 
Hồ Con Rùa nhìn từ trên cao - Ảnh Google map
 
Dù "trấn yểm" kỹ càng như vậy, nhưng năm 1975, Việt Nam Cộng hòa vẫn sụp đổ. Năm 1978, một nhóm người đã đặt bom phá hủy con rùa với ý đồ phá hoại Long mạch. Họ bị bắt giữ, nhưng con rùa kim loại cũng đã bị phá hủy.
 
Vụ án này đã được dựng thành phim Vụ án Hồ Con Rùa do nhà báo công an Huỳnh Bá Thành chấp bút, NSND Trần Phương đạo diễn.
 
Hình tháp như một cái ghim "đóng' vào đuôi con Rồng.
 
Tuy nhiên, dù mất con rùa, thì "Hồ Con Rùa" vẫn còn đó, nằm giữa trung tâm Sài Gòn hoa lệ như một chứng nhân của lịch sử.
 

Ly kỳ chuyện mả phát đế vương

Ly kỳ chuyện mả phát đế vương
 
Ly kỳ chuyện mả phát đế vương Điểm qua trong sử nước Nam, dường như triều vua, chúa nào cũng đều có mả tổ phát đế vương.



Xét trong sử cũ nước ta, đa phần các triều đại dù vắn số hay trường vinh, đều có liên quan đến việc vương nghiệp, đế nghiệp được phát lên nhờ có mả tổ đúng ngôi đất kết. Điểm qua trong sử nước Nam, dường như triều vua, chúa nào cũng đều có mả phát đế vương. Đơn cử như một số trường hợp sau:
 
Đất hoa sen tám cánh. Nghiệp đế vương bát vị 
 
Nhà Lý tồn tại trong sử nước Nam được 215 năm (1009 - 1225), trải qua 9 đời vua nối nhau giữ nghiệp nước, làm được biết bao công nghiệp cho thiên hạ. Nào lập “đất đế đô muôn đời” (Lời Thiên đô chiếu) Thăng Long năm Canh Tuất (1010), lập quốc hiệu Đại Việt năm Giáp Ngọ (1054), lại ra luật thành văn đầu tiên của nước nhà - Hình thư năm Nhâm Ngọ (1042), rồi mở mang Nho học với kỳ thi Nho học tam trường lần đầu tiên của đất nước năm Ất Mão (1075)… 
 
Triều vua đầu tiên của nhà Lý là Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn, nguyên quán đất Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân không thuộc dòng dõi con vua, cháu chúa, nhưng trải thời thế biến động, người con đất Cổ Pháp ấy đã lên ngôi cao thiên hạ. Và theo người xưa, mọi việc đều có nguyên do của nó. Khoan nói tới tài năng, khoan nói tới hoàn cảnh lịch sử và muôn vàn những lý do khác nữa,  ở đây, chúng ta nói tới ngôi mả, thế đất phát đế của nhà Lý. 
 
Nam Hải dị nhân khi viết về vua Lý Thái Tổ cho hay: “Tục truyền đời ông thân sinh ra ngài, nhà nghèo khó, đi làm ruộng thuê ở chùa Tiêu Sơn, huyện An Phong, phải lòng một người tiểu nữ có mang, nhà sư thấy thế đuổi đi chỗ khác. Hai vợ chồng mang nhau đi, đến chỗ rừng Báng, mỏi mệt ngồi nghỉ mát. Chồng khát nước, xuống chỗ giếng giữa rừng uống nước, chẳng may sẩy chân xuống giếng chết đuối. Vợ ngồi chờ lâu không thấy, đến giếng xem thì đất đã đùn lấp giếng rồi, ngồi khóc lóc một hồi, rồi vào ngủ nhờ trong chùa Ứng Tâm gần đấy”. Theo phong thủy xưa, mộ nhà ai không tự nhiên lấp mà được thiên tạo, ắt là ngôi huyệt mộ quý, không phát đế vương thì cũng thành danh ở đời. 
 
 Đền Đô thờ tám vua Lý. Ảnh: Internet. 

Cũng sách trên của Phan Kế Bính cho biết: “Xét ngôi huyệt chỗ giếng trong rừng Báng ấy, những gò ở chung quanh trông hình như cái hoa sen nở ra tám cánh, cho nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời, bây giờ thuộc về làng Đình Bảng, huyện Đông Ngàn”.

Sở dĩ nói nghiệp đế nhà Lý truyền 8 đời, bởi vua thứ chín của nhà Lý vừa là vua nữ, Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng Trần Cảnh, chuyển nghiệp đế họ Lý sang dòng Trần, nên không được tính vào. Lại nói về ngôi mộ cha vua Lý Thái Tổ ở đất Cổ Pháp, khi lên ngôi hoàng đế, đến năm Canh Tuất (1010), nhằm dịp tháng 2 “Vua về châu Cổ Pháp bái yết lăng Thái hậu, cho các bô lão trong làng tiền lụa theo thứ bậc khác nhau (vua bái yết lăng, nhìn quanh cây cối xum xuê các bầy chim muông liệng quanh rồi đậu xuống, trong lòng cảm thấy thương xót, nghẹn ngào không tả xiết. Lòng thương xót cảm động đến cả người chung quanh. Vua liền sai tả hữu tư đến đó đo lấy vài chục dặm cạnh làng để làm nơi đất cấm của Sơn Lăng, các triều vua sau đưa về táng ở xứ ấy, đều gọi là Thọ Lăng)” (TríchĐại Việt sử ký tiền biên). 
 
Thầy phong thuỷ trả ơn cứu mạng. Đông A lập thành mang chữ “sắc”
 
Nhà Trần vốn xuất thân từ nghề chài lưới mà làm nên nghiệp đế, ở ngôi cao thiên hạ trong một thời gian dài. Theo thế đất mà mộ tổ nhà Trần có được ở xã Thái Đường, huyện Hưng Nhân, được gọi là: “Vì nhan sắc mà được nước”, hay:
 
Ba ngàn son phấn rọi bên trong;
Tám trăm yên hóa đối diện sinh.
(Trích Đại Nam dư địa chí ước biên – Cao Xuân Dục)
 
Thực hư của ngôi mộ tổ phát đế nhà Trần như thế nào? Tìm trong Công dư tiệp ký, ta được tỏ qua phần “Trần triều tổ mộ ký” (tức Truyện mộ tổ nhà Trần). Theo đó, tổ tiên nhà Trần vốn ở xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, chuyên nghề đánh cá. Lúc bấy giờ, có thầy địa lý Trung Hoa sang nước ta xem đất, tìm được ngôi huyệt phát đế có phát tích tại xã Nhật Cảo và chỗ kết cục ở xã Thái Đường, huyện Hưng Nhân. Chợt lúc ấy, có Nguyễn Cố người xã Tây Vệ đến, hỏi: 
 
- Ông thấy ở chỗ này có huyệt tốt phải không?
 
Thầy địa lý mới ngửa mặt lên trời cười, bảo:
 
- Không ngờ ở nơi bình địa mà lại có đất Đế vương. Đáng chê các thầy địa lý đời nay, không thầy nào có nhãn lực!
 
Cố vui lắm, mới khẩn khoản:
 
- Nếu quả là đất Đế vương, xin ông cho tôi. Ông muốn được tạ lễ bao nhiêu, tôi cũng xin nộp đủ.
 
Thấy Nguyễn Cố thành khẩn nài nỉ, thầy địa lý mới bằng lòng, chỉ xin một trăm quan tiền, lại hẹn sau khi Cố lấy được nước, phải chia cho một nửa. Nguyễn Cố lấy làm thuận, đem mộ tổ táng vào chỗ ấy. Thầy địa lý sợ Nguyễn Cố phản trắc, bèn bảo:
 
- Táng xong tất có điềm lành. Nhưng trong hạn một trăm ngày, thỉnh thoảng phải đến thăm nom. Nếu sau cơn mưa gió sấm sét, thấy có sự lạ, thì phải di táng đi chỗ khác ngay.
Nguyễn Cố vừa táng mả tổ vào nơi ấy được ba ngày, nửa đêm bỗng có tiếng sấm to, làm kinh động tới cả vùng quanh đấy. Sáng hôm sau, quanh vùng mả táng có nhiều hòn đá nhô lên, gọi là đá tai mèo. Nguyễn Cố biết được đất quý rồi, lấy làm vui. Vợ hắn mới bảo:
 
- Ngôi đất ấy dầu cho là phát phúc, nhưng hiện nay làm thế nào mà lo được trăm quan tiền. Vả lại, sau khi chia đôi thiên hạ, thì còn được bao nhiêu?
 
Cố nghe vợ nói thế, thì trong lòng không muốn tạ lễ cho thầy địa lý nữa. Khi thầy địa lý đến lấy tiền, Cố hẹn mấy ngày nữa sẽ trả. Đến hẹn, thầy lại đến đòi, Nguyễn Cố liền bắt trói lại, rồi đến đêm vứt xuống sông. Nhưng chỗ hắn ném thầy địa lý xuống lại là bãi bồi phù sa, đang lúc thủy triều lên ngập bãi. Lúc sau, thủy triều rút, thầy bị trói nằm trên bãi ấy. 
 
Duyên trời cơ định làm sao, thuyền chài của họ Trần đi qua, nghe thấy tiếng hô cứu, vội tới đem thầy địa lý lên thuyền, hỏi đầu đuôi cớ sự. Cảm cái ơn cứu mạng, thầy địa lý Trung Hoa nói:
 
- Nhờ ông mà tôi được sống lại. Xin đem ngôi đất quý ấy biếu ông.
 
Rồi sau lại nói người họ Trần lấy đồng đỏ đúc lưỡi tầm sét, lấy cây vang nấu nước đỏ ối để dùng. Một hôm mưa to gió lớn, sét đánh rền vang, thầy địa lý và người họ Trần đem lưỡi tầm sét cắm xuống mộ nhà Nguyễn Cố, lấy nước cây vang nhuộm đỏ tưới lên mộ. Nguyễn Cố ra, cho là mộ bị sét đánh chảy máu, bèn đem táng nơi khác. Họ Trần liền đem mộ tổ táng vào. Ngôi huyệt mộ ấy phía trước trông ra ngã ba sông Vị Hoàng, phía sau có voi phục, lâu đài và cờ gươm bài trí hai bên. Huyệt ở thế “Thổ tang phúc tàng kim” (đất giấu vàng). Táng xong, thầy phán:
 
- “Phấn đại yên hoa đối diện sinh”, nhà ông hẳn nhờ nhan sắc mà lấy được thiên hạ. 
 
Hai bên giao ước, nhà Trần lấy được nước, sẽ chu cấp cho nhà thầy địa lý đời đời đủ ăn đủ mặc, lại làm giấy giao ước với nhau. Về sau, nhờ ngôi mộ ấy, Trần Cảnh vốn mũi cao mặt rồng, làm Hỏa đầu trong cung Lý Chiêu Hoàng, được nhường ngôi cho. Đúng từ ngôi mộ phát đế mà nên. Ban đầu, nhà Trần đối đãi với con cháu thầy địa lý đủ lễ. Nhưng đến cuối thời Trần, lễ ngày càng bạc. Con cháu nhà thầy địa lý theo lời dặn của cha ông, sang đưa cho nhà Trần một bản sấm thư. Mở ra, thấy ghi: “Ngôi mộ phát tích ở Thái Đường sắp hết thịnh, phải khởi thông thuỷ đạo mới giữ được lâu dài”.
 
Vua Trần tin lời, bèn đào đường thủy đạo từ sông Vị Hoàng xã Phú Xuân đi vào, quanh đến xã Thái Đường, nào ngờ là kế hiểm của thầy địa lý để lại, đường thuỷ đạo làm đứt long mạch, nhà Trần từ đó mà suy. Đúng là:
 
Tức Mặc cung hoang; Vị Hoàng sông rộng.
Yên hoa đối diện, ngàn thuở thành vàng.
Lại:
Thử hỏi Tức Mặc, họ Trần mấy vương?
Không khơi sông ấy, ngàn thuở ki thang. 
(Theo Đại Nam dư địa chí ước biên)
 
Mộ tổ nhờ sư. Đế vương phát tích
 
Triều Lê sơ khởi phát từ Lê Thái Tổ sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược mà lập nên. Nghiệp đế của triều đại này truyền nối lâu dài, được Lam Sơn thực lục dẫn ra, nhờ mả tổ táng đúng huyệt tốt mà nên cả. 
 
Theo đó, khi Lê Lợi được sinh ra ở đất Như Áng, làm Phụ đạo làng Khả Lam. Khi ấy Nhà vua sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi, huyện Lương Sơn (theo Đại Nam nhất thống chí, huyện Lương Sơn chính là huyện Thụy Nguyên, nay thuộc huyện Thiệu Hóa). Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng:
 
- Quý hóa thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!
 
Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với Nhà vua, Nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng:
 
- Sư già đã đi xa rồi.
 
Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Thọ Xuân ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng:
 
Thiên đức thụ mệnh.
Tuế trung tứ thập.
Số chi dĩ định,
Tích tai vị cập.
Nghĩa là:
Đức trời chịu mệnh,
Tuổi giữa bốn mươi!
Số kia đã định,
Chưa tới ... tiếc thay!
 
Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư xuất hiện, bảo nhà vua rằng:
 
- Tôi từ bên Ai Lao xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá Trắng (hay Bạch Y thần tăng). Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!
 
Nhà vua quỳ xuống thưa rằng:
 
- Mạch đất ở miền đệ tử tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho?
 
Nhà sư nói:
 
- Xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lão mang, thuộc huyện Lang Chánh ngày nay); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy thiên sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Áng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được. Nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc Trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.
Nhà sư nói rồi, Nhà vua liền đem đức Hoàng khảo (tức là Tuyên tổ của nhà Lê, thân phụ của Lê Lợi, tên Khoáng) táng vào chỗ ấy. Quả nhiên về sau, nhà Lê được Lê Lợi lập nên, dân cường nước thịnh, triều đại bền lâu. 
 
Một đêm ngủ trọ. Có ngay mả tốt
 
Dòng dõi chúa Trịnh truyền được 12 đời, tồn tại song song với vua Lê thời Lê Trung hưng (1533 - 1789), dù “phi đế phi bá”, nhưng quyền nghiêng thiên hạ. Tiếng là ở dưới một người, trên cả vạn người, mà thực ra quyền bính nắm hết trong tay. Ngôi mộ tổ phát nghiệp cho dòng họ này, trong Trịnh gia chính phảcủa Nhật nham Trịnh Như Tấu có ghi.


 
 Phúc ấm vương Trịnh Liễu gặp Tống Thiên Thần vương. Ảnh chụp lại từ sách Trịnh gia chính phả.

Sự thể là, cụ Hưng tổ Phúc ấm vương Trịnh Liễu của chúa Trịnh Kiểm, vốn người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (tức huyện Vĩnh Lộc nay, xưa vì kiêng tên huý vua Lê Trang Tông mà đổi làm Vĩnh Phúc), phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa, cha mẹ mất sớm, lấy nghề cày cấy, chăn nuôi làm kế sinh nhai, bản tính nhân từ. 
 
Một hôm, có cụ già tuổi ngót 70 đến xin ngủ trọ qua đêm. Cụ Liễu tiếp đãi rất hậu. Đến khuya, ông già bảo:
 
- Tôi xem ông có lòng thành thực tiếp đãi. Nay, ở bên Nam núi Hùng Lĩnh có ngôi đất. Để mả ở đấy, bốn đời sau có thể nên Vương nghiệp (núi Hùng Lĩnh nằm phía tây huyện Vĩnh Lộc). 
 
Cụ Liễu nghe lời ông già, đem hài cốt tiền nhân táng vào ngôi đất ấy. Ông già lại đưa đến bên Đông núi Lệ Sơn, xứ Ngõ Thắng, xã Biện Thượng mà bảo:
 
- Chỗ này có thể lập ngôi dương cư được!
 
Rồi lại đưa đến xứ Mã Thắm, nói:
 
- Chỗ này là quý địa, trăm năm sau có thể làm âm phần tiếp phúc được.
 
Xong việc, hai người trở lại về đất Sóc Sơn cùng nhau tiệc rượu. Đương lúc chè chén vui vẻ, cụ già đi ra ngoài, rồi từ đấy không thấy đâu nữa. Về sau, cụ Trịnh Liễu cứ theo lời cụ già đã chỉ, lấy người con gái họ Hoàng làng Biện Thượng rồi dời sang ở đấy. Đến thời Trịnh Kiểm kể là bốn đời, vương nghiệp được tạo nên từ huyệt đất núi Hùng Lĩnh ông già trả ơn mà thành. Cảm công ơn ấy, nhà chúa Trịnh phong cụ già năm nào làm Tống Thiên Thần Vương để ghi nhớ công lao, đời đời thờ cúng.