Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Thăng Long đất rồng bay

Thăng Long đất rồng bay
 
Thăng Long đất rồng bay Phong thủy

Với cái nhìn đất cát, phong thủy thì Hà Nội chỉ là một dải phù sa trên đất của sông Nhị. Nói đúng hơn, Hà Nội gốc được bao quanh bởi 3 sông: Nhị Hà, Tô Lịch, Kim Ngưu.
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này.
Tờ chiếu của Lý Công Uẩn viết tháng hai năm Canh Tuất (1010) hỏi ý kiến quần thần về việc dời đô từ thành Hoa Lư ra thành Đại La của Cao Vương (thầy phong thủy – theo Trần Quốc Vượng) nhằm mục đích “đóng nơi trung tâm, mưu toan việc lớn cho muôn đời con cháu mai sau”. Ông phân tích vị thế  Đại La: “Tiện hình thế núi sau, sông trước” . Trước mặt Đại La là sông Nhị, sau lưng Đại La là núi Tản Viên (Ba Vì) “long bàn hổ cứ”, rồng cuộn bên tả (tả thanh long), tức bên Đông là sông, hổ ngồi bên hữu (hữu bạch hổ) tức bên Tây là núi, nhà vua “nam diện xưng vương, xưng đế”; Điện ngự triều, ngai vàng đặt giữa, hướng về phía nam. Tháng Bảy năm ấy, cử hành lễ dời đô, thuyền ngự đậu bến Đông thành Đại La (sau sử gọi là Đông Bộ Đầu – chỗ dốc Hàng Than – Hòe Nhai ngày nay). Tháng Bảy cuối hè đầu thu, mùa mưa dông – mưa Ngâu, trời đầy mây, gió nồm cuồn cuộn thổi. Vua và quần thần cho đấy là điềm “Long Vân khánh hội” (Rồng – Mây mừng họp), bói theo Dịch học là quẻ Càn tượng nhà vua: “Tiềm long vu thủy” (Rồng ẩn đáy nước), “Hiện long vu điền” (hoặc “đại trạch” – Rồng hiện trên ruộng đầm nước bốc hơi thành mù mây); “Phi long tại thiên” (Rồng bay lên trời làm mây mưa).
Vì thế, đổi tên kinh đô là Thăng Long: Thành Rồng bay, cái chí cực, chí thịnh vượng của văn mình nông nghiệp lúa nước! Tâm thức người xưa, theo tôi hiểu là như vậy!
Đền tứ trấn
Mặt trời mọc phía Đông, trên dải ngàn dâu xanh ngắt dọc bờ bãi sông Nhị. Đấy là phường Giang Khẩu, cửa Tô Lịch Giang từ sông Nhị mở vào. Đấy là đền Bạch Mã trấn ở phía Đông  kinh thành (Nay ở 76 Hàng Buồm). Đông Bộ Đầu là quân cảng (còn lại bia đá cổ đặt trong chùa Hòe Nhai), từ  Hoàng thành đi ra dọc đường Hòe (Đông Hòe: Hòe Nhai, Tây Liễu: Liễu Giai – đường Đội Cấn ngày nay). Giang Khẩu là thương cảng: bến thuyền, “trên bến dưới thuyền”, đấy là chợ Đông Bạch Mã là tượng mặt trời chủ tể.
Rồi mặt trời sẽ lặn đằng Tây, gác non Đoài. Quẻ Đoài của Dịch học là tượng đại trạch (đầm lớn). Đó là đầm/hồ Linh Lang, trên bờ có thờ thần Linh Lang “Ông Thiêng” là một vị thủy thần, sau được lịch sử hóa thành hoàng tử nhà Lý. Nay gọi là đền Thủ Lệ (“thủ lệ” là dân được cắt cử trông coi đền).
Phía Bắc mịt mù, hướng xấu, tượng là Huyền Vũ (rùa đen), có đền trấn trạch, đời Lý gọi là Quán Bắc đế, sau gọi là Quán Chân Vũ, dân gian Hà Nội quen gọi là đền Quan Thánh. Đấy là ngã ba Kim Ngưu chảy về Tây, cửa thông với Dâm Đàm (Đầm mù sương), sau gọi là Hồ Tây, Tây Hồ, cũng có một tên khác là hồ Kim Ngưu bao gồm cả Hồ Tây – Trúc Bạch (đường Cổ Ngư nay là Thanh Niên, chia hai hồ có cống thông, mãi đầu thế kỷ XVII thời Lê – Trịnh mới đắp).
Phía Nam khi ấy và sau này nữa cũng còn lầy lội lắm (ô Đồng Lầm: ngã tư Kim Liên – Đại học Bách Khoa ngày nay) – tượng Chu tước (chim sẻ đỏ) đậu cao, nên lập đền thờ đấng Cao Sơn (núi cao, một hóa thân của Thánh Tản), sau chuyển thành Đình Kim Liên.
Các cửa nước và chợ bến
Đấy là 4 đền tứ trấn tứ phương cổ truyền của kinh thành Thăng Long. Vẽ ghi bốn đền đó lên bản đồ Hà Nội hiện đại, ta sẽ hiểu được thành cổ Thăng Long với giới hạn Đông, Tây, Nam , Bắc. Đó là một tứ giác nước, nói theo lý thuyết quy hoạch hiện đại, Thăng Long là một thành phố mà sông viền quanh Bắc sang Đông và Tây, Nam là hồ lớn, cũng có sông Tô Lịch, Kim Ngưu chảy quanh – Tây Hồ, Bảy Mẫu.
Đồng Lầm có vải nâu non
Có hồ cá rộng có con sông dài
Sông nước vây quanh Thăng Long thành; Nhà nước quân chủ và dân bách tính đắp đê đắp lũy ven sông nối với nhau, thì sẽ trở nên La Thành, Đại La thành (thành lũy lớn vây quanh kinh thành – sau gọi là đường Đê La Thành mà các nhà quy hoạch hiện nay gọi là “đường vành đai” thành phố.
Nhưng xin nhớ: đây không phải là đất Hoa Bắc khô hạn, lũy thành đóng kín. Đây là đất Việt. Phương Nam nóng - ẩm – gió – mưa nhiệt đới nên sông hồ đều có cống thông nhau, lũy thành đều có cửa nước (như ở cố đô Huế có “tên chữ” là Đông thành thủy quan, Tây thành thủy quan).
Thăng Long – Hà Nội xưa, các cửa ô chính đều là cửa nước. Vài ví dụ: Ô Bưởi, đời Lý gọi là Hồng Tân (bến Hồng). Ngã ba Tô Lịch – Thiên Phù – Ô Cầu Giấy (đời Lý gọi là cầu Tây Dương); Ngã ba Tô Lịch – Kim Ngưu; Ô Chợ Dừa, Ô Đồng Lầm, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác (Ông Mạc); ngã ba Kim Ngưu và các chi nhánh, quan trọng nhất là sông Sét, sông Lừ…Và do đó các chợ cửa ô đều là chợ bến.
Thành và Hoàng thành
Lãnh thổ Thăng Long “cốt” cao nhất hiện nay là vùng quận Ba Đình: “cốt” Núi Voi 12m, “cốt” Hội trường Ba Đình 5.6m; ở đấy Nhà nước xây Hoàng thành, có sông Tô Lịch chảy dọc đường Quán Thánh làm hào phía Bắc; có Ngọc Hà , Kim Ngưu làm hào phía Tây (chảy xuôi về Nam dọc đường Lê Trực qua cống Cát Linh xuống Hào Nam); có Bích Câu (chảy dọc đường Hàng Đẫy- Nguyễn Thái Học) làm hào phía Nam… Thành phố mở 4 cửa: Cửa Đông Tường Phù (Điềm tốt lành) mạn 10 Hàng Cân – 30 Hàng Đường; cửa Tây Quảng Phúc (Phúc rộng lớn) mạn Hùng Vương – chùa Một Cột; Cửa Nam Đại Minh (Sáng rực rỡ) phía chợ Cửa Nam – Đình Ngang – Cấm Chỉ; Cửa Bắc Diệu Đức (Đạo đức huyền diệu) mạn cửa Bắc bây giờ. Ngoài 4 cửa, mở 4 chợ Đông, Tây, Nam, Bắc mà lịch sử về sau xê đi dịch lại thành chợ Đồng Xuân (trước cửa Hàng Buồm – Đông), chợ Ngọc Hà (Tây), chợ Châu Long (Bắc), chợ Cửa Nam (Nam). Cửa Đông, Tây, Bắc: Tam quan; Cửa Nam: Ngũ quan.
Trong Hoàng thành, xây dựng các cung, các điện. Năm 1997, ta xây lại hội trường Trung tâm báo chí quốc tế, đào móng thấy được nhiều gạch, ngói thời Lý – Trần – Lê . Trước đó 1973, xây lăng Bác, đào móng tìm được cả gạch xây giống thế kỷ IX phía ngoài cửa thành (Giang tây quân), nhiều gạch, ngói, gốm, sứ Lý – Trần – Lê .
Năm 1998, Quân đội ta trao lại cho ngành văn hóa quản lý một phần khu thành Nội gồm Cột Cờ (Nguyễn, 1814), Đoan Môn (cửa Nam trang, Lê), Hậu Lâu (Nguyễn – còn gọi là Lầu công chúa).
Đào tham sát ở trước Hậu Lâu , sau mở rộng thêm, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nền cung điện Long Thụy – Long An đời Lý (có bệ đá đỡ chân cột chạm khắc hình hoa sen) ở sâu 3.2m cách mặt đất hiện nay, nền cung điện Lê sơ và Lê mạt cùng nhiều gạch ngói, gốm, sứ…Việc khai quật khảo cổ ở trong thành Nội còn nhiều hứa hẹn.

 
Theo Sách Hà Nội 36 góc nhìn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét